marque

*** Chào mừng bạn đang ghé thăm trang web Tuyển Tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế *** Bài mới nhất

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

Cuộc Hành Trình 44 Năm Tại Canada

 

Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.

Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960

Cựu Giáo Sư Trưởng Ban

Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn

Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975

Librarian Emeritus

Đại Học Saskatchewan

CANADA

 

            Cùng với gia đình nhỏ của tôi, gồm 4 người, vợ chồng tôi và 2 đứa con trai, đứa lớn 17 tuổi, và đứa nhỏ 5 tuổi, do Anh Tư tôi bảo lãnh, tôi đã đặt chân xuống Phi trường Mirabel, Thành phố Montréal, Tỉnh bang Québec, Canada, vào buổi chiều Ngày Thứ Tư, 23-9-1981.  Tính đến hôm nay, Thứ Tư, 26-11-2025, tôi đã sống tại Canada đượccó thể dễ dàng xin cấp học bỏng  44 năm rồi, thời gian đó còn dài hơn cả thời gian 40 năm tôi đã sống tại Việt Nam (7/1941-9/1981).  Bài viết này cố gắng ghi lại những sự việc mà, ở tuổi 84 này, tôi còn nhớ được trong cuộc hành trình hơn 44 năm đó.

 

Làm Lao Động Chân Tay Tại Montréal

          Tại thời điểm gần cuối năm 1981 này, Anh Tư của tôi, Tiến Sĩ Lâm Vĩnh-Tế, đang là Giáo Sư Trưởng Ban Hóa Học của Trường Đại Học Cộng Đồng CEGEP Bois-de-Boulogne (CEGEP = Collège d‘enseignement général et professionnel) tại Thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, Canada.  Vì người bảo lãnh, Anh Tư tôi, sinh sống tại Montréal, nên gia đình tôi phải sống tại thành phố này lúc mới đến Canada.  Vào đầu thập niên 1980, quan hệ giữa chính phủ liên bang Canada và chính phủ tỉnh bang Québec rất căng thẳng.  Lý do: vẫn không quên việc người Québecois đã bị người Anh đè đầu, đè cổ, áp bức trong quá khứ (đã xảy ra trước đó trong các thế kỷ 18 và 19), giai cấp trí thức Québecois vận động và tiến đến thành lập chính đảng Parti Québecois do René Lévesque lãnh đạo, và chiếm được chính quyền lần đầu tiên sau cuộc bầu cử năm 1976, và sau đó được tái nhiệm vào năm 1981.  Mặc dù đã thất bại trong cuộc Trưng Cầu Dân Ý năm 1980, nhằm thuyết phục người dân đồng ý tách Québec ra khỏi Canada thành một quốc gia độc lập, chính phủ Québec vẫn không tử bỏ ý định và quan hệ với Canada vẫn tiếp tục căng thẳng.  Với chính quyền trong tay, Parti Québecois đã ban hành vào năm 1977 bản Hiến Chương Tiếng Pháp (Charte de la langue française = Charter of the French Language), hay còn được gọi là Dự Luật 101 (Bill 101), công nhận tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức (Langue officielle = Official Language) của tỉnh bang Québec.  Tất cả mọi giấy tờ, công văn chính thức, các bảng tên đường phố, các bảng hiệu của các cơ sở thương mại đều phải dùng tiếng Pháp.  Con cái của các gia đình nước ngoài nhập cư vào Québec đều phải học tiếng Pháp tại các trường tiểu học và trung học Pháp.  Hai đứa con của tôi đều phải đi học tại các trường Pháp.  Chính ngay trong tình trạng kỳ thị tiếng Anh như vậy cho nên, mặc dù đã nộp hơn 80 đơn xin việc, tôi đã không thể tìm được việc làm trong ngành thư viện của tôi (ngay cả không một nơi nào mời đến phỏng vấn cả) chỉ vì văn bằng MLS (Master of Library Science = Cao Học Thư Viện Học) của tôi là từ Đại Học Syracuse, một trường đại học của Hoa Kỳ.  Để có được chút ít lợi tức nuôi sống gia đình, tôi phải chấp nhận một công việc làm lao động, khiên vác trong một kho hàng tại Montréal vào khoảng tháng 11-1981, lúc sắp bước vào Mùa Đông.  Đó là một công việc làm ban đêm, từ 4 giờ chiều đến 12 giờ khuya, với lương tối thiểu, chỉ có 4,25 đô la Canada một giờ, tức là vào khoảng 8.500 đô la Canada một năm.  Nhiều đêm xong việc, trong lúc đứng ngoài trời, chờ xe buýt, trong cái lạnh kinh người của Mùa Đông Canada, tôi đã không cầm được nước mắt vì quá tủi thân cho thân phận của mình: từ một giáo sư đại học tại Việt Nam nay đã trở thành một anh cu li tai Canada.

 

Nối Lại Liên Hệ Với Ân Sư Pauline A. Cochrane

          Trong thời gian hai năm (9/1971-5/1973) theo học Trường Thư Viện Học, Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University), tại Thành phố Syracuse, tiểu bang New York, Hoa Kỳ, Giáo sư Hướng dẫn (Academic Advisor) mà cũng là Giáo sư chính dạy tôi là Ân Sư Pauline Atherton (về sau khi lập gia đình với Giáo sư Cochrane Bà mới đổi tên thành Pauline A. Cochrane). 

Professor Emerita Pauline A. Cochrane (1929-2024) – Ảnh chụp khoảng năm 2011

Trong 12 giáo trình cần phải học để lấy văn bằng MLS (xem chi tiết tại Phụ Đính A và Phụ Đính B), tôi đã học tất cả 3 giáo trình với Ân Sư Cochrane như sau:

·        LSC 503: Organization of Information Resources (đạt điểm A)

·        LSC 630: Advanced Topics in Organization of Information Resources (đạt điểm A)

·        LSC 998: Readings and Research in Library Science (đạt điểm A)

Trong 3 giáo trình kể trên, giáo trình LSC 998 là một trường hợp hết sức đặc biệt.  Tôi học giáo trình này trong Hoc Kỳ Mùa Thu của năm 1972 (1972 Fall Semester), lúc chưa đậu xong bằng Cao Học.  Giáo trình LSC mang số 998 là giáo trình cuối cùng của chương trình đào tạo cấp Tiến Sĩ; luận văn Tiến sĩ mang số hiệu là LSC 999.  Trên lý thuyết, tôi KHÔNG có quyền ghi danh học giáo trình LSC 998, nhưng Ân Sư Cochran đã vận động và được Gáo Sư Khoa Trưởng đồng ý nên tôi mới được ghi danh học giáo trình đó.  Lúc theo học LSC 998 tôi hoàn toàn không biết ý định của Ân Sư Cochrane là tạo điều kiện cho tôi có thể dễ dàng xin cấp hoc bổng của Đại Học Syracuse để theo học chương trình đào tạo Tiến Sĩ sau khi tôi lấy xong bằng Cao Học.  Tôi chỉ biết ỳ định đó khi, vào cuối tháng 5-1973, tôi đã tốt nghiệp Cao Học rồi, và đang chuẩn bị hành lý bay về Việt Nam.  Sáng hôm đó, tôi đang làm hành lý thì được điện thoại của Ân Sư Cochrane kêu tôi đến gặp Bà ngay.  Đến nơi Bà bảo tôi đừng vội về nước ngay, hảy ở lại học lên Tiến Sĩ, và trong thời gian đó sẽ làm phụ tá cho Bà dạy Giáo trình LSC 503, Bà dạy phần lý thuyết và tôi sẽ phụ trách phần thực hành.  Tôi cám ơn Bà nhưng từ chối không nhận với lý do Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có chính sách chỉ cho phép học một văn bằng mà thôi (one-degree policy).  Bà cười và nói chuyện đó để Bà lo.  Thấy nói lý lẽ không xong rồi, tôi chuyển sang nói chuyện tình cảm; tôi nói nhớ vợ con quá, xin Bà để cho tôi về làm việc và hai năm sau tôi sẽ trở qua học Tiến sĩ; điều này có ghi rõ trong hợp đồng giữa Cơ quan Viện Trợ Mỹ USAID (United States Agency for International Development) và Chính phủ VNCH khi cấp học bổng cho tôi, và Bà cũng biết rõ như vậy.  Bà đành phải chịu để cho tôi về nước.   Bà hẹn sẽ gặp lại tôi hai năm sau.[1] Cuộc hẹn hai năm sau đó giữa hai thầy trò chúng tôi đã không bao giờ xảy ra vì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975. 

 

Hoạt Động Phát Triển Thư Viện Tại Việt Nam (1973-1975)

Đầu năm 1974, tôi ra ứng cử và đắc cử chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành của Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN).  Trong suốt nhiệm kỳ 1974, tôi đã giúp phát triển ngành thư viện tại VNCH rất nhiều.  Nhờ những thành quả đó, tôi đã được các hội đoàn văn hóa tư bầu vào Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐVHGD) nhiệm kỳ 2 (1974-1977) và được Đại Học Vạn Hạnh mời đứng ra thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH) đầu tiên cho VNCH và cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban.  Tất cả những bước phát triển đáng kể này đều được tôi tường trình cho Ân Sư Cochrane và Bà rất vui mừng thông báo lại các thành tích này của tôi, một cưu sinh viên, cho nhà trường.

Đầu năm 1975, tôi lại nhận được thư của Ân Sư báo tin cho biết Bà đã vận động và được Đại Học Syracuse đồng ý cấp cho tôi một ngân khoản để giúp tôi, với tư cách là Chủ Tịch HTVVN, có thể đi dự Hại Hội Thường Niên của Liên Hiệp Quốc Tế Các Hội Thư Viện (Annual Congress of the International Federation of Library Associations = IFLA) sẽ nhóm họp vào Hè 1975 tại Oslo, Thủ đô của Na Uy.  Dĩ nhiên, chuyến đi Oslo dự định này cũng đã không bao giờ xảy ra vì biến cố ngày 30-4-1975.  Sau ngày 30-4-1975 liên lạc giữa Ân Sư và tôi hoàn toàn bị cắt đứt vì Chính phủ Việt Nam cộng sản lúc đó vẫn còn xem Mỹ là kẻ thù và dĩ nhiên giữa hai nước không có quan hệ ngoại giao.  Giữa năm 1977, một buổi tối, vào khoảng hơn 7 giờ, tôi nhận được một điện tín của Ân Sư.  Tôi rất mừng và cảm động.  Ân Sư báo cho tôi biết là Trường Thư Viện Syracuse sẽ tìm cách đem gia đình tôi ra khỏi Việt Nam.  Nhưng sau đó, suy nghĩ lại, tôi rất lo sợ vì bức điện tín này có thể làm tôi ở tù như chơi.  Sáng sớm hôm sau, tôi ra Bưu Điện Sài Gòn và gởi ngay một điện tín cho Ân Sư yêu cầu Bà và Nhà Trường đừng có hành động gì cả vì sẽ rất nguy hiểm cho tôi, và đề nghị Bà nên liên lac thẳng với Anh Tư tội, Dr. Vinh-Te Lam, ở Montréal.

 

Bước Đầu Làm Lại Sự Nghiệp Tại Canada (1981-1992)

          Tháng 4-1979, gia đình tôi nhận được giấy tờ bảo lãnh đi định cư tại Canada do Anh Tư tôi gởi về.  Mẹ tôi rất vui mừng và mang ngay ra Phường nộp để đăng kỳ xin đi Canada.   Công An Phường cho biết chỉ nhận giấy bảo lảnh cho Mẹ tôi thôi, và trả lại không nhận giấy bảo lãnh cho gia đìng tôi với lý do là vợ chồng tôi đang còn là công nhân viên nhà nước.  Mẹ tôi rất tức giận và rút lại tất cả giấy tờ đã nộp và đi về.  Về đến nhà, Mẹ tôi nói ngay: “Má đăng ký là để cho tụi con được cùng đi chung luôn, chớ Má đi một mình làm gì.”  Cuối tháng 6-1979, Mẹ tôi bị tai biến mạch máu não và mất ngày 4-7-1979, hưởng thọ được 75 tuổi.  Nhờ tiền của Anh Tư tôi gởi về, tôi đã có thể lo được cho Mẹ tôi một đám tang đàng hoàng và sau đó đưa tro hài cốt cua Mẹ tôi vào thờ tại Vạn Thọ Cổ Tự ởTân Đinh.  Về phần gia đình tôi, sau hai năm vật lộn với các thủ tục và “biết điều” với Công An Thành Phố, tôi cũng lấy được các giấy xuất cảnh và đưa gia đình rời Việt Nam đi định cư tại Canada vào ngày 23-9-1981.

Khoảng đầu tháng 10 năm 1981, một buổi sáng, tôi mừng vô cùng khi nhận được điện thoại của Ân Sư Pauline.  Sau khi hỏi thăm sức khỏe và tình trạng gia đình tôi, Bà nói như sau: “Thế ơi, em phải đi học lại đi vì em cần biết về bộ quy tắc biên mục mới cũng như việc làm biên mục bằng máy điện toán.”  Tôi trả lời Bà là tôi rất muốn đi học lại nhưng hiện nay tôi không có phương tiện tài chánh vì đang làm lao đông với lương tối thiểu.  Bà nói ngay: “Em đừng lo chuyện đó.  Sáng mai, em cứ đến Trường Thư Viện Học của Đại Học McGill, xin vào gặp ông Khoa Trưởng và ông ấy sẽ sắp xếp cho em.”

Sáng hôm sau, tôi đến Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học McGilll (School of Library Science, McGill University) ở downtown Montréal, xin vào gặp Ông Khoa Trưởng và được Ông xếp ngay cho vào học Giáo Trình về Biên Mục Sử Dụng Mấy Vi Tính (Computerized Cataloguing) do Giáo Sư John Leidi phụ trách, mỗi tuấn hai buổi trưa vào ngày Thứ Hai và Thứ Tư, từ 1:00 đến 2:30 giờ.  Việc được nhận vào hoc giáo trình này là một sự kiện bất thường do quyết định của Ông Khoa Trưởng vì giáo trình đã bắt đầu được mấy tuần lễ rồi.  Như đã trình bày bên trên, vào thời gian này, tôi đang làm một công việc lao động toàn thời gian (8 giờ 1 ngày) trong một kho hàng, tử 4 giờ chiều cho đến 12 giờ khuya..  Vì vây, tôi phải cố gắng rất nhiều để có thể theo học giáo trình này.  Tại buồi học đầu tiên, Giáo Sư John Leidi đã đi xuống tận bàn học tôi đang ngồi, bắt tay tôi và gọi tôi là “Đại Sư Huynh = Big Brother.”  Thì ra John cũng là đồ đệ của Ân Sư nhưng học sau tôi khá nhiều năm, và sau khi lấy được bằng Tiến Sĩ (PhD) đã sang Canada day hoc.  Chính Ân Sư đã gọi cho John để gửi gắm tôi với John.

Trong thời gian này, Ân Sư đã gởi sang cho tôi một thư giới thiệu (Letter of Reference) trong đó có một câu rất gây ấn tượng cho người đọc như sau:[2]

“… He was, without doubt, one of the top ten or twenty students I have had in twenty-five years of teaching… There is no doubt in my mind that Lam Vinh The could hold any professional library position for which he applied.  With a little in-service training and reading he should be able to bring himself up to speed.  I have every confidence of that.” 

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Không nghi ngờ gì cả, anh ấy đã từng là một trong mười hay hai mươi sinh viên giỏi nhứt trong hai mươi lăm năm dạy học của tôi… Không có một chút nghi ngờ nào trong suy nghĩ của tôi là Lâm Vĩnh Thế có thể đảm nhận bất cứ công việc chuyên môn nào về thư viện mà anh ấy nộp đơn.  Chỉ cần một ít huấn luyện tại chỗ và đọc thêm tài liệu thì anh ấy sẽ nhanh chóng nắm được công tác.  Tôi hoàn toàn tin tưởng như vậy.”

 

          Một hôm tôi đến Trường McGill sớm và thấy trên bảng thông tin (Bullletin board) có dán một mẫu tin ngắn,  cắt ra từ tờ nhật báo The Globe and Mail, về một công viêc làm hợp đồng trong một năm, từ ngày 1-4-1982 cho đến hết ngày 31-3-1983, cho thư viện trung ương của Bộ Canh Nông tại thủ đô Ottawa.  Tôi gởi đơn xin việc ngay và độ một tuần lễ sau tôi được công ty Sharon Professional Services = SPS (một công ty chuyên tìm việc làm cho các chuyên gia) mời lên Ottawa phỏng vấn.  Bà Renée Staples, Trưởng Phòng Nhân Viên của SPS, đón tôi tại bến xe buýt, và đưa tôi đến Thư Viện của Bộ Canh Nông để gặp Bà Joyce MacKintosh, Phó Giám Đôc Thư Viện.  Sau một vài câu hỏi nhẹ nhàng, chiếu lệ, Bà MacKintosh nhận tôi ngay.  Đây là một dự án chuyển đổi các thẻ thư mục trên thẻ 3 x 5 inch sang dạng ký lục điện tử (electronic catalog record) với thời gian thực hiện là 5 năm.  Khi tôi nhận việc là bắt đầu năm thứ ba; tôi rất mừng vì nghĩ là sẽ còn được tiếp tục thêm hai năm nữa.

          Tôi được công việc này là một may mắn lớn đầu tiên trong cuộc đời đi làm ở Canada, nhờ các yếu tố thuận lợi như sau:

·        Lá thư giới thiệu đầy ấn tương của Ân Sư

·        Bà MacKintosh là một chuyên gia thư viện của Canada nhưng rất ngưỡng mộ Ân Sư

·        Bà Renée Staples là một người Mỹ nhưng lập gia đình với một người Canada là ông Charles Staples nên theo chồng sang sống tại Canada; chuyện bất ngờ là Bà lại là một ngươi sinh ra, lớn lên, và trưởng thành tại Syracuse và cũng là một cựu sinh viên của Đai Học Syracuse nên tự nhiên có cảm tình với tôi khi thấy tôi cũng là một cựu sinh viên của Đai Học Syracuse như bà.

Độ nữa năm sau, một hôm Bà MacKintosh gọi tôi vào phòng bà và cho biết là Bộ Canh Nông đã bị cắt ngân sách và phải chấm dứt dự án vào cuối năm.  Trước khi câu chuyện chấm dứt đột nhiên bà hỏi tôi một câu như sau: “Tôi nhớ trong lý lịch của anh có ghi là anh là giáo sư về bộ môn biên mục lúc còn ở Việt Nam.  Bây giờ anh có còn muốn đi dạy nữa không?”  Tôi trả lời bà ngay là tôi rất muốn được đi dạy trở lại.  Bà MacKintosh gọi điện thoại ngay cho Bà Jean Painter, Manager, Library Technician Program của Trường Đai Học Cộng Đồng Algonquin của Ottawa   Bà Painter mời tôi đến phỏng vấn, nhận tôi và giao cho tôi phụ trách giảng dạy giáo trình về Biên Mục Mô Tả (Descriptive Cataloguing), và tôi đã dạy ở đó trong hai năm (1982-1984)

 

 

Thăng Tiến Nghề Nghiệp Tại Tỉnh Bang Ontario

Công việc làm hợp đồng tại Thư Viện Bộ Canh Nông chấm dứt vào ngày 31-3-1983 và tôi không tìm được làm mới.  Tôi phải nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp và sống với trợ cấp này trong khoảng gần nửa năm, sau đó mới tìm đươc một số việc làm hợp đồng do SPS giới thiệu cho Thư Viện của các Bộ của Chính Phủ liên bang Canada.  Sau cùng, vận may của tôi đã đến.  Một ngày đầu tháng 7-1984, tôi đọc báo The Globe and Mail và thấy có đăng 1 thông cáo tuyển nhân viên của một cơ quan liên bang chuyên cung cấp thông tin về An Toàn Lao Đoỵng có tên là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS) =  Centre canadien d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST) như sau:

             

               Thông cáo tuyển nhân viên của CCOHS trên báo The Globe and Mail

 

Tôi gởi đơn ngay xin được tuyển dụng vào chức vụ Inventory Cataloguer.  Ngày 7-8-1984, tôi nhận được văn thư của CCOHS mời tôi đến trụ sở của cơ quan ở Hamilton để được phỏng vấn vào ngày 15-8-1984.  Ngày 23-8-1984, CCOHS gửi văn thư chính thức báo tin là họ nhận tôi làm Inventory Cataloguer cho Documentation Services..  Đây là một công việc toàn thời gian, thường trực, với rất nhiều quyền lợi giống như một công chức của chính phủ liên bang Canada.  Không còn nghi ngờ gì nữa cả, tôi đã thật sự được Canada chính thức công nhận là một chuyên viên về thông tin thư viện.”

Văn thư của CCOHS nhận vào làm Inventory Cataloguer

            Gần một năm sau, CCHS mở lại cuộc thi tuyển cho chức vụ Manager, Online Catalogue mà năm trước đã không tìm được ứng viên thích hợp.  Tôi nộp đơn xin dự cuộc thi tuyển , được phỏng vấn ngày 10-6-1985 và được nhận vào ngày 14-6-1985, và chính thức bắt đầu chức vụ cấp chỉ huy này vào ngày 24-6-1985.[3]

Văn thư của CCOHS nhận làm Manager, Online Catalogue

          Sau đó tôi còn đảm nhận một số chức vụ chỉ huy khác như sau:

·        Manager, Information Resource Department

·        Manager, Database Development Department

·        Manager, Database and Information Resource Department

Từ 1988 trở đi, CCOHS bắt đầu sản xuất các CD-ROM chứa đựng các Database do Department của tôi làm ra.   Các CD-ROM được bán ra khăp thế giới, và thu về cho CCOHS mỗi năm vài triệu đô la.  Cũng chính vì lý do đã làm ra được tiền mà CCOHS đã trở thành nạn nhân của đòn phép chính trị bẩn thỉu.

CCOHS được Chính Phủ Liên Bang (Liberal Party = Parti Libéral) thành lập vào năm 1978 và có chủ trương ủng hộ công nhân.  Năm 1992, chính quyền đã về tay Đảng Bảo Thủ (Progressive Conservative Party = Parti congressiste-conservateur), và, với chủ trương ủng hộ chủ nhân, họ tìm cách phá hoại CCOHS.  Việc đầu tiên là họ cách chức ngay lập tức Tiến Sĩ Gordon Atherley, President của CCOHS, một chuyên gia về An Toàn Lao Động nổi tiếng khắp thế giới, và cử người thay ông là ông Arthur St.-Aubin, một Trung Tướng (tướng 3 sao) hồi hưu hoàn toàn không có chuyên môn về An Toàn Lao Động mà cũng không có khả năng quản lý tài chánh, và giao cho ông nhiệm vụ phá hoại CCOHS.  

 

Nạn Nhân Của Đòn Phép Chính Trị Bẩn Thỉu

          St,-Aubin ra tay không thương tiếc, cho nghĩ việc hay ép phải từ chức,các vị giám đốc (directors) và kế tiếp là cho nghĩ việc tất cả các trưởng ban (managers).  Tôi bị cho nghĩ việc vào ngày 30-9-1992 với một số tiền bồi thường: [4]

“Trong vòng 2 tháng, ông tân Chủ Tịch đã thành công trong việc xóa sạch sơ đồ tổ chức của CCOHS, không còn các khối, các ban, các giám đốc, các trưởng ban gì nữa hết.  Bây giờ chỉ còn các toán phụ trách từng dự án ngắn hạn, và sẽ giải tán khi dự án thực hiện xong.  Vì trong suốt thời gian 8 năm làm việc tại CCOHS, tôi đã luôn luôn được đánh giá cao và cho điểm ưu, tôi đã có ý định nếu bị cho nghỉ việc thì tôi sẽ kiện CCOHS với lý do là bị đối xử bất công.  Nhưng khi vụ việc xảy ra thì tôi đã bỏ ý định kiện tụng đó vì, hình như đã đoán trước việc thưa kiện (mà chắc chắn CCOHS sẽ thua kiện), ông tân Chủ Tịch đã quyết định trả cho tôi một số tiền bồi thường bằng 8 tháng lương (tức là 1 tháng lương cho 1 năm làm việc).  Tuy nhiên, tôi vẫn bị thiệt hại rất nặng nề vì tiền hưu của tôi bị cắt bỏ với lý do là tôi chưa có đủ 10 năm công vụ.  Tôi chỉ nhận lại được phần tiền tôi đã đóng góp trong 8 năm đó cho quỹ hưu bổng của liên bang.  Lúc đó tôi đã 51 tuổi và bị rơi vào hoàn cảnh không có việc làm nghĩa là không có một lợi tức cố định, và quan trọng hơn nữa, tôi vừa mới trả góp tiền nhà được có 4 năm.  Tôi rời khỏi CCOHS và lòng buồn vô cùng vì tôi nghĩ rằng mình đã bị đối xử rất bất công, mình đã là nạn nhân của một đòn phép chính trị đảng phái, và, trên hết, tất cả mọi việc xảy ra hoàn toàn đi ngược lại những giá trị nhân bản của đất nước Canada và bản chất lương thiện và đôn hậu của người dân Canada.”

 

Năm Năm Trời Lận Đận

          Sau biến cố không vui đó tại CCOHS, tôi đã trải qua một thời gian 5 năm trời lận đận, với những công việc làm hợp đồng tạp nhạp.

          Tháng 11-1992, tôi tìm được một việc làm 12 tháng tại Thư Viện của Quốc Hội tỉnh bang Ontario (Queen’s Park) ở Toronto, thay cho một nữ nhân viên đang nghỉ hộ sản.

          Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của một bạn đồng nghiệp cũ tại CCOHS, tôi tìm được một công việc làm hợp đồng 6 tháng tại cơ quan Workplace Health and Safety Agency (WHSA) tại Toronto, với trách nhiệm là thiết kế và xây dựng một Thư Viện / Văn Khố cho cơ quan.  Tôi thành công tốt đẹp nhiệm vụ và được cơ quan nhận vào làm việc chính thúc luôn, với chức vụ Quản Thủ Thư Viện / Văn Khố vào ngày 2-8-1994.

          Tình hình chính trị tại tỉnh bang Ontario lúc đó rất căng thẳng giữa 2 đảng Tự Do và Bảo Thủ.  Sau cuộc bầu cử vào tháng 6-1995, Đảng Bảo Thủ thắng lớn và thành lập chính phủ mới với Ông Mike Harris làm Thủ Tướng. Cơ quan WHSA bị giảm chế và sáp nhập vào Cơ Quan Bồi Thường Lao Đọng (Workplace Safety and Insurance Board = WSIB).  Tôi nhìn thấy nguy cơ bị cho nghỉ việc nên không còn cách nào khác hơn là bắt đầu tìm một công việc làm khác ngay.  Và lần này vận may của tôi đã đến.

          Một ngày đầu tháng 5-1997, tôi đọc báo The Globe and Mail và thấy một thông cáo tuyển nhân viên của Viện Đại Học Saskatchewan tại Thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan, trong vùng Đại Bình Nguy6n (Grand Prairie) của Canada.  Viện Đại Học đang tìm một vị Trưởng Ban cho Ban Biên Mục (Head, Cataloguing Department) của Thư Viện Trung Ương của Viện.  Tôi nộp đơn ngay, được mời đến Saskatoon phỏng vấn vào ngày 2-6-1997.  Hai tháng sau tôi nhận được điện thoại của Ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện báo tin tôi đã được nhận, và tôi bắt đầu chính thức làm việc vào ngày 2-9-1997 với chức vụ Trường Ban Biên Mục cho Thư Viện của Viện Đại Hoc Saskatchewan.

 

Những Đóng Góp Cho Thư Viện Đại Học Saskatchewan

Huấn Luyện Nhân Viên

          Ban Biên Mục của Thư Viện Đai Học Saskatchewan gồm có tất cả 22 nhân viên: 4 Quản Thủ Thư Viện (Librarian) có bằng MLS như tôi, và 18 nhân viên trung cấp (LA = Library Assistants).  Chỉ có 2 LA đã tốt nghiệp chương trình đào tạo từ các trường đại học cộng đồng (2 năm, và 3 năm nếu là chương trình vừa học vừa làm gọi là Co-op).  Đại đa số LA không được đào tạo chính quy, chỉ được nhận vào làm và sau đó tự học hỏi trong công việc mà thôi. 

          Đóng góp quan trọng đầu tiên của tôi trong cương vị Trưởng Ban Biên Mục là tổ chức một khóa huấn luyện cho các LA.  Đề nghị của tôi cho khóa huấn luyện đã được Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC) chấp thuận và khóa huấn luyện đã được thực hiện trong 4 ngày, từ 24 đến 30-4-1998, gồm 5 phần về Biên Mục và Phân Loại như sau:

·        Phần 1: Các nguyên tắc về Biên Mục

·        Phần 2: Tầm quan trọng của Mô Tả

·        Phần 3: Các điểm Truy Cập

·        Phần 4: Số Phân Loại và Tiêu Đề Chủ Đề

·        Phần 5: Các dụng cụ làm việc

Cuối khóa huấn luyện các học viên đã đánh giá rât cao, từ Tốt đến Rất Tốt (từ Very Good tới Excellent).

 

Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn

          Khi tôi bắt đấu làm việc cho Thư Viện Đại Học Saskatchewan thì thư mục trực tuyến (online catalog) của Thư Viện đã có được gần 1 triệu biểu ghi thư muc (catalog record) với một đa số rất lớn không đúng theo các tiêu chuẩn MARC (MARC = MAchine-Readable Catalog) và AACR2 (Anglo-American Cataloguing Riles, Second Edition).  Rõ ràng là có nhu cầu cấp bách phải điều chỉnh tình trạng không tốt đó cho thư mục trực tuyến.  Bản thân Ban Biên Mục của Thư Viện không thể đảm đượng nổi công tác lớn lao này.  Với tư cách Trưởng Ban Biên Mục, tôi đã thực hiện một cuộc nghiên cứu sâu rộng về việc Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn (Authority Control = AC) và trình lên LMC một dự án AC tại ngoại, nghĩa là giao công tác AC cho một công ty bên ngoài chuyên làm chuyện này  Sau khi thảo luận căn kẻ, LMC đã đồng ý với dự án tôi đã trình lên.  Công ty Library Technologies, Ltd (LTI) của Hoa Kỳ đã được chọn để thực hiện dự án AC này.

 

Xử Lý Tài Liệu Điện Tử

          Từ giữa thập niên 1990, với sự ra đời của INTERNET, tài liệu điện tử xuất hiện gần như mỗi ngày, tràn ngập các trang mang, tạo nên một thử thách rất lớn cho các thư, nhất là các thư viện đại học, trên khắp thế giới.[5] Thư Viện của Đại Học Saskatchewan cũng không thể là một ngoại lệ.

          Để đối phó trực diện với thử thách lớn lao đó, LMC đã

 “liên tiếp giao cho một loạt nhiệm vụ như sau: 1) Chủ Tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm Về Liên Quan Giữa Tài Liệu Điện Tử và Thư Mục (E-Documents and the Catalogue Task Force, từ tháng 12-1997 đến tháng 3-1998); 2) Chủ Tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm Về Tạp Chí Điện Tử của Khối Dịch Dụ Kỹ Thuật (TSAC E-Journal Task Force, từ tháng 10-1998 đến tháng 9-1999; TSAC = Technical Services Advisory Committee); 3) Thành Viên của Nhóm Công Tác Chuẩn Bị Cho Dự Án Quốc Gia Canada Về Vấn Đề Truy Dụng Tạp Chí Điện tử (Getting Ready for the CNSLP Working Group, từ tháng 10-2000 đến tháng 4-2001; CNSLP = Canadian National Site Licensing Project).  Tôi đã hoạt động rất tích cực trong các ủy ban đó để giúp cho Thư Viện Đại Học Saskatchewan giải quyết một cách thỏa đáng các thử thách về tài liệu điện tử trên Mạng INTERNET cũng như về các tạp chí điện tử.  Dựa trên kinh nghiệm làm việc trong các dự án đó, tôi đã viết được hai bài báo, một cho tạp chí Cataloging & classification quarterly, một cho tạp chí Serials librarian, và một bài thuyết trình tại Hội Nghị Hàng Năm (1999) của Hội Thông Tin Học Hoa”

 

Vào Biên Chế Và Thăng Cấp Tại Đại Học Saskatchewan

          Trong văn thư nhận tôi về làm việc cho trường, Đại Học Saskatchewan có ghi rõ là thời gian thử thách (probation), trước khi vào biên chế,[6] sẽ là 3 năm (1997-2000).  Với tư cách là một nhân viên đã vào biên chế, tôi sẽ không thể bị cho nghĩ việc, và tôi có thể yên tâm làm việc cho đên ngày nghỉ hưu. 

          Cuối năm 1999 và đầu năm 2000, tôi liên tiếp nhận được 2 văn thư (đề ngày 12-11-1999 và 10-1-2000) của Ông Ken Ladd, Phó Giám Đốc Thư Viện của Đại Học báo cho biết là Ủy Ban Biên Chế Thường Trực của Đại Học, và Ủy Ban Xét Duyệt của Đại Học đã đồng ý đề nghị và đã được chấp thuận cho tôi được chính thức vào biên chế của Đai Học Saskatchewn từ ngày 1-7-2000 với lời lẽ như sau: [7]

  “The University Review Committee has concluded its consideration of recommendations for tenure.  I am pleased to advise you that the Committee voted to recommend to the Board of Governors that you be granted permanent status effective 1 July 2000.

The award of tenure is an extremely important step for both you and the university.  In addition to being an important stage in your own career development, the awarding of tenure represents the University’s long-term commitment to you in recognition of the satisfactory performance of your duties during your first years at the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học đã xem xét khuyến cáo cho ông vào biên chế thường trực và đã có kết luận.  Tôi rất vui mừng thông báo cho ông là Ủy Ban đã bỏ phiếu tán thành và sẽ khuyến cáo lên Hội Đồng Quản Trị của Viện Đại Học để ông được vào biên chế thường trực kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2000.  Việc ban tặng quy chế thường trực là một bước tiến vô cùng quan trọng đối với ông cũng như đối với Viên Đại Học.  Ngoài việc thể hiện một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của ông, việc ban tặng đó còn thể hiện sự cam kết lâu dài của Viện Đại Học đối với ông qua việc công nhận ông đã công tác tốt trong những năm đầu tiên tại Đại Học Saskatchewan,”)    

            Một vài tuần sau đó, tôi được LMC thăng cấp, đề cử tôi giữ chức vụ mới là Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division), chịu trách nhiệm cả 2 Ban của Khối là Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department) và Ban Biên Mục (Cataloguing Department), và đồng thời tôi cũng trở thành một thành viên thường trực của LMC.

            Khi nhận tôi năm1997, Đại Học Saskatchewan đã xếp tôi vào hang cao nhất của Librarian III (3.5).  Tại Bắc Mỹ (Canada và Hoa Kỳ), Librarian có tất cả 4 bậc: Librarian I, Libraian II, Librarian III, và Librarian IV.[8] Với sự khuyến khích của Ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện, ngày 15-9-2001, sau khi đã hội đủ các tiêu chuần thăng cấp của Viện Đại Học,[9] tôi đã nộp đơn xin thăng cấp lên Librarian IV.  Sau hơn nữa năm đấu tranh quyết liệt, kể cả mấy lần phải gởi đơn khiếu nại lên Viện Đại Học, với các đồng nghiệp nhỏ nhen, ganh tị trong thư viện, ngày 20-3-2002, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ (Vice-President for Academic Affairs) cho biết Hội Đồng Quản Trị của Đại Học đã chấp thuận thăng cấp cho tôi lên Librarian IV, với lời lẽ như sau:

“On behalf of the University Review Committee, I am pleased to inform you that the Committee has recommended to the Board of Governors that you be promoted to the rank of Librarian IV effective July 1, 2002.  Congratulations!  You should receive a letter from the Board of Governors later this month.

The documentation provided supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date.  Our recommendation to the Board of Governors is a vote of confidence in you as a senior member of the university community and in your continuing          `contribution to the academic life and vitality of the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thay mặt Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học, tôi vui mừng báo tin cho ông là Ủy Ban đã khuyến cáo với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học để ông được thăng cấp lên Quản Thủ Thư Viện Bậc IV kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2002.  Xin chúc mừng ông!  Ông sẽ nhận được văn thư của Hội Đồng Quản Trị vào cuối tháng này.  Hồ sơ đã được đệ trình để hỗ trợ cho trường hợp của ông đã chứng minh rằng các đồng nghiệp của ông tại trường cũng như từ khắp Canada, và cà quốc tế, đã công nhận những thành quả mà ông đã đạt được cho đến ngày hôm nay.  Khuyến cáo của chúng tôi với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học là một lá phiếu xác nhận sự tin tưởng của chúng tôi đối với ông với tư cách là một thành viên cao cấp của cộng đồng đại học, và đối với sự tiếp tục đóng góp của ông cho sự nghiệp và sức sống của Đại Học Saskatchewan.”)

 

Nghĩ Phép Một Năm Để Đi Làm Nghiên Cứu

        Theo đúng quy định của Viện Đại Học Saskatchewan, sau khi công tác đủ 6 năm liên tục, ngày 1-7-2003, tôi được nghỉ phép trọn một năm, từ ngày 1-7-2003 cho đến hết ngày 30-6-2004, để đi làm nghiên cứu (Sabbatical Leave).

         Trong thời gian một năm này, tôi đã hoàn tất 2 dự án nghiên cứu:

·        Dự án thứ nhất: làm một cuộc nghiên cứu sử dụng một bảng câu hỏi (Questionnaire Survey) về đề tài “Kiểm Tra Phẩm Chất Trong Công Tác Biên Mục Tại Ngoại Tại Các Thư Viện Đại Học Của Bắc Mỹ.”

·        Dự án thứ nhì: thực hiện cho Thư Viện của Đai Hoc Saskatchewan một “Cơ Sở Dữ Liệu Trực Tuyến Trên Web Các Tài Liệu Đã Giải Mật Trong Khoảng Thời Gian 1975-2000 của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ Về Chiến Tranh Việt Nam.”

           Kết quả của hai dự án nghi6n cứu này d94 được viết thành hai bài báo gởi đăng trên hai tạp chí chuyên nnga2nh quan trong của Hoa Kỳ là Cataloging & Classification Quarterly Online.

 

Những Đóng Góp Sau Khi Nghỉ Hưu

           Ngày 1-7-2006 tôi chính thức nghỉ hưu từ Thư Viện Đại Học Saskatchewan sau hơn 33 làm công tác thư viện (8 năm tại Việt Nam và 25 năm tại Canada).

          Gia đình tôi dọn nhà trở về thành phố Hamilton, trong tỉnh bang Ontario, tại số 585 Britannia Avenue, mà chúng tôi đã mua được từ năm 1988 lúc còn làm việc cho CCOHS:

 

Nhà của gia đình tại số 585 Britannia Avenue, Hamilton, Ontario

 

            Sau khi nghỉ hưu, tôi đã có thì giờ nhiều hơn để quay trở về làm công tác nghiên cứu về sử, ngành chuyên môn đầu tiên mà tôi đã được đào tạo ở bậc đại học.

          Nhờ vậy, tôi đã viết được khá nhiều bài báo gởi đăng trong các tạp chí tiếng Việt tại Canada và Hoa Kỳ.

          Tôi cũng đã xuất bản được một số sách nghiên cứu và hồi ký:

                   Tiếng Việt:

·        Bộ quy tắc biên mục Anh-Mỹ rút gọn, 1988.  Đồng dịch giả với Phạm Thị Lệ-Hương.  MacLean, VA: LEAF-VN, 2002, 289 trang.

·        Đakao trong tâm tưởng.  Hamilton, ON: Hoài Việt, 2008, 175 trang.

·        Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa.  Hamilton, ON: Hoài Việt, 2008, 387 trang.

·        Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967: nhửng năm xáo trộn.  Hamilton, ON: Hoài Việt, 2010, 348 trang.

·        Trường Petrus Ký trong tâm tưởng: nhớ về trường xưa, thầy cô và bạn học.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, 156 trang.

·        Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: một quân đội anh hùng bị bức tử.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, 368 trang.

·        Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, 274 trang.

Tiếng Anh:

·        Republic of Vietnam, 1963-1967: years of political chaos.  Hamilton, ON: Hoài Việt, 2010, 296 trang.

·        The Price of freedom, sách dịch, nguyên tác tiếng Việt là Giá tự do của Lâm Vĩnh Bình.  Montréal: Sans Frontières, 2015, 344 trang.

·        Vietnam, territoriality and the South China Sea: Paracel and Spratly Islands, sách dịch, nguyên tác tiếng Việt là Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Hãn Nguyên Nguyễn Nhã.  Abingdon, Oxon, UK: Routledge, 2019, 190 trang.

·        The History of South Vietnam: the quest for legitimacy and stability.  Abingdon, Oxon, UK: Routledge, 2021, 179 trang. (Routledge Contemporary Southeast Asia Series).

·        Armed Forces of the Republic of Vietnam: a heroic army unjustly abandoned and left for dead.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2022, 390 trang.

·        Full circle: memoir of a Vietnamese-Canadian librarian.  London, UK: Austin Macauley,2024, 215 trang.

Thay Lời Kết

          Kể từ ngày 23-9-1981 khi đặt chân xuống Phi trường Mirabel ở Montréal đến hôm nay, 26-11-2025, tôi đã sống và làm việc tại Canada được 44 năm, trải dài qua 3 tỉnh bang Quebec, Ontario và Saskatchewan.  Tôi đã có được một số đóng góp khá quan trọng cho ngành Thông Tin -Thư Viện của Bắc Mỹ nói chung và của Canada nói riêng.

 

GHI CHÚ:

1.     Lâm Vĩnh-Thế.  Cơ hội chỉ đến một lần, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Interenet sau đây: https://petruskyaus.net/co-hoi-chi-den-mot-lan-lam-vinh-the/

2.     Lâm Vinh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt.  Westminster, Cali.: Nhân Ảnh, 2021, tr. 110-111.

3.     Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt, sđd, tr. 118.

4.     Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt, sđd, tr. 122.

5.     The INTERNET explosion, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: The Internet Explosion | Encyclopedia.com

6.     Danh từ biên chế là tác giả tạm dịch từ danh từ ttiếng Anh “tenure”.  Từ này được tự đển Cambridge Dictionary định nghĩa như sau: the right to remain permanently in a jobespecially as a teacher at a university.

7.     Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt, sđd, tr. 135-136.

8.     Hiện nay, ở năm 2025 này, Librarian của Đại Học ở Bắc Mỹ chỉ còn 3 bậc, và mang danh hiệu như sau: Assistant Librarian, Associate Librarian, và Librarian.  Khi nghỉ hưu, nếu hội đủ điều kiện, sẽ được ban danh hiệu Librarian Emeritus (Emerita nếu là nữ)

9.     Các tiêu chuẩn này đã được liệt k6 rõ ràng trong tài liệu sau đây của Đai Học Saskatchwean: University Library Standards for Promotion and Permanent Status.

                       

                                                   PHỤ ĐÍNH A

 

Bảng Điểm (Transcript) Do Phòng Học Vu (Registrar) của Đại Hoc Syracuse Cung Cấp

 

 

 PHỤ ĐÍNH B

 

             Bằng MLS (Master of Library Science = Cao Học Thư Viện Học) do Phòng Học Vụ Đại Học