marque

*** Chào mừng bạn đang ghé thăm trang web Tuyển Tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế *** Bài mới nhất

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Con Đường Tôi Đã Đi


                                            Giáo Sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S

                                    Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Ký, 1953-1960

                                                           Cựu Giáo Sư Trưởng Ban

Ban Thư Viện Học, Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975

Librarian Emeritus

Đại Học Saskatchewan, 1997-2006

CANADA

 

Tôi sinh năm 1941 tại xã Bình Hòa, quận Gò Vắp, tỉnh Gia Định, Việt Nam, và  hiên nay, ở năm 2026 này, đang sống tai thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, Canada.  Tôi đã có được một cuộc hành trình khá dài, trong 85 năm, và đã trải qua khá nhiều thăng trầm trong cuộc sống.  Bài viết này là một cố gắng cuối đời nhằm ghi lại những kỷ niệm vui buồn trong cuộc đời, những chuyện đã không làm được dù đã hết sức muốn làm, cũng như những chuyện đã làm được cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội và cho đất nước, tại quê hương Viêt Nam nơi tôi chào đời, cũng như tại Canada, nơi tôi đã chọn để định cư hơn 40 năm qua.

 

Thời Gian Sống Tại Việt Nam

 

            Tôi đã sống tại Việt Nam được gần nửa thế kỷ, tất cà là 40 năm (1941-1981).  Trong khoảng thời gian 40 năm đó, tôi dành ra 15 năm cho việc học hành thi cử, từ bậc Tiểu Học đến bậc Đại Học như sau:

 

Thòi Gian Học Hành Thi Cử

 

Bậc Tiểu Học

 

Trong thời gian học ở bậc Tiểu Học, tôi đã theo học suốt 5 năm (1948-1953) tại Trường Nam Tiểu Học Đakao, và đã thi đậu cả 2 bằng cấp của bậc Tiểu Học là Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học và Bằng Tiểu Học

 

 

Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học năm 1951 – Có Phần Pháp Văn (ghi chữ đỏ)

 

 

Bằng Tiểu Học năm 1953

 

            Hè năm 1953, sau khi đã đậu bằng Tiểu Học, tôi nộp đơn xin dự kỳ thi tuyển vào các lớp đệ thất của ngôi trường trung học lớn nhứt và danh tiếng nhứt của Mền Nam là Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, mà đồng bào Miên Nam thường chỉ gọi tát là Trường Petrus Ký.  Đây là một kỳ thi tuyển rất khó khăn vì số thí sinh dự thi rất đông, có thể lên đến hàng ngàn người, trong khi Trường Petrus Ký chỉ láy vào khoảng 500 học sinh cho 10 lớp đệ thất mà thôi.  Vì vậy, thật là một may mắn rất lớn cho bản thân tôi, là tôi đã thi đậu, và được xếp hạng 355 trên tổng số 500 thí sinh trúng tuyển của năm đó.

 

Bậc Trung Học

 

            Khi mới nhập học, tôi được xếp vào Lớp Đệ Thấ B6, sau nửa năm học, tên lớp được đổi thành Lớp Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp mới này được giữ mãi cho đến hết bậc Đệ Nhứt Câp: Đệ Thất F (1953-1954), Đệ Lục f (1954-1955), Đệ Ngũ F (1955-1956), và Đệ Tứ F (1956-1957).  Cuối năm học 1956-157, toi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp với hạng Bình Thứ.

 

 

Bằng Trung Học Đệ Nhưt Cấp năm 1953, hạng Bình Thứ

 

            Lên bậc Đệ Nhị Cấp, tôi cũng đã may mắn được tiếp tục học tai Trường Petrus Ký suốt 3 niên khóa: Lớp Đệ Tam A (1957-1958), Lớp Đệ Nhị A (1958-1959), và Lớp Đệ Nhứt A1 (1959-1960).  Cuối năm Lớp Đệ Nhị A, tôi thi đậu bằng Tú Tài, Phần 1, Ban A (Vạn Vật), hạng Bình Thứ, và cuối năm Lớp Đệ Nhứt A1, tôi thi đậu bằng Tú Tài, Phần 2, cũng Ban A, hang Thứ:

 

 

 

Bằng Tú Tài – Phần 1 (1959), hạng Bình Thứ - Phần 2 (1960, hạng Thứ

 

            Sau khi đậu bằng Tú Tài Phần 2, tôi đã nộp đơn xin dự kỳ thi tuyển vào năm thứ nhứt, cũng rất là khó khăn, của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), và, cũng rất may mắn,tôi cũng đã trúng tuyển.

 

Bậc Đại Học

 

            Trong thời gian 3 năm (1960-1963) theo học Ban Sử Địa của Trường ĐHSPSG, tôi cũng đã đạt được thành tích học tập rất đáng kể như sau:

 

·         Thi vào Trường:tôi đã đậu hạng 4 trên tông số 35 thí sinh trúng tuyển

·         Thi lên năm thứ hai: tôi đã đậu hạng 3

·         Thi lên năm thứ ba: tôi đã đậu hạng 2

·         Thi tốt nghiệp: bạn bè ai cũng nghĩ là tôi sẽ đậu Thủ Khoa, nhưng thật đáng buồn, tuy vẫn đậu với hạng Bình Thứ, tôi đã bị tuột xuống tới hạng 13; lý do: một tuần lễ trước ngày thi, tôi bị bệnh rât nặng, đã tưởng là không thể đi thi được rồi, chính hôm thi, Mẹ tôi phải mướn 1 chiếc xe taxi và đích thân Mẹ tôi đưa tôi đi thi.

 

 

 

Chúng Chỉ Tốt Nghiệp Trường ĐHSPSG – Giáo Sư Khoa Trưởng

Bùi Xuân Bào ký ngày 24-4-1963

 

 

Thời Gian Làm Việc

 

Trường Trung Hoc Công Lập Kiến Hòa (1963-1966)

 

            Sau khi tốt nghiệp ĐHSPSG, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm vào ngạch Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp (GSTHĐ2C), và nhiệm sở đàu tiên là Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre, sau đây sẽ ghi tắt là Trường Kiến Hòa).

 

 

 

Cổng chính của Trường Kiến Hòa

 

            Tôi đã dạy học, môn Sử Địa, tại Trường Kiến Hòa trong 3 niên khóa (1963-1966). Lúc tôi về nhận việc, trường đã có một giáo sư môn Sử Địa rồi, và đó là Giáo Sư Lê Như Dực, một đàn anh của tôi, đã tốt nghiệp ĐHSPSG, Ban Sử Địa, Khóa 1 (1961):

 

 

Hình Giáo Sư Lê Như Dực lúc dạy học tại Trường Kiến Hòa

 

 

 

 

 

 

Di ảnh Cố Giáo Sư Lê Như Dực tại tang lễ, mãn phần ngày 25-5-2025

 

          Anh Dực và tôi bàn nhau và quyết định phân chia trách nhiệm như sau: Anh Dực dạy Sử và tôi day Địa.  Thế là tôi nghiểm nhiên trở thành “Ông Địa” của Trương Kiến Hòa.  Chỉ sau một năm học, tôi đã tạo được một kỳ tích tại Trường Kiến Hòa.  Đó là chấm dứt được cái nạn học sinh “cúp cua” giờ học môn Đia Lý vi cho là nó quá khô khan, chẳng có gì hấp dẫn, không đáng bỏ giờ ra học.  Với nhiệt tình của bản thân tôi đối với môn học này, cũng như kiến thức rộng về môn Địa Lý do 3 năm được đào tạo chính quy tại ĐHSPG và việc chiu khó tự rèn luyện thêm  (do đọc rất nhiều tài liệu sách báo Anh-Pháp), tôi đã giảng cho học sinh các lớp đệ nhị cấp hiểu rõ các hiện tượng địa lý thiên nhiên (đặc biệt là về khí hậu, thế nào là Gió Mùa, thế nào là Gió Lào, và nhứt là thế nào là Gió Chướng tại Đồng Bằng Sông Cửu Long), địa lý nhân văn (các sắc dân, các chế độ chính trị), và địa lý kinh tế (các cường quốc kinh té của thế giới hiện đại, sự hinh thành và phát triển của chúng, cũng như tác động và ảnh hưởng lên các nước nhược tiểu).   

 

Trường Trung Hoc Kiểu Mẫu Thủ Đức (1966-1971)

 

          Sau 3 năm dạy học tại Trường Kiến Hòa, tháng 9-1966, tôi được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).  Tôi đã dạy môn Kiến Thức Xã Hội (tên mới của môn Sử Đia tại Trường KMTĐ) tại Trường KMTĐ trong 4 năm (1966-1970) cho đến khi, do một tình cờ của định mệnh,[1] tôi chuyển sang làm công tác thư viện, và, nhờ vậy, đã được Cơ Quan Viện Trợ Mỹ (United States Agency for International Development = USAID) cấp cho một học bổng đi du học Hoa Kỳ trong 2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, Viện Đại Hoc Syracuse (School of Library Science, Syracuse University = SLSSU), tại thành phố Syracuse, tiểu bang New York.

 

Hai Năm Du Học Hoa Kỳ (1971-1973)

 

          Chuyến chuyên cơ Boeing-707 của Hãnh Hàng Không Hoa Kỳ PAN AM, đưa tôi đi Mỹ, rời Phi Trường Tân Sơn Nhứt vào lúc 11 giờ sáng ngày 9-8-1971.[2] Sau hai trạm dừng tại Hong Kong và Tokyo, chiếc Boeing 707 vượt ngang Thái Bình Dương và đáp xuống phi trường Honolulu tại tiểu bang Hawaii vào lúc 9 giờ sáng của cùng ngày 9-8-1971.  Sau khi làm xong thủ tục di trú, tôi được đưa về East-West Center nằm trong khuôn viên của Trường Đại Học Hawaii.  Tôi sẽ ở đây trong 3 tuần lễ để dự một khóa huấn luyện gọi là Pre-University Workshop.[5] Nhờ khóa huấn luyện này tôi đã không gặp nhiều khó khăn khi bắt đầu vào học Khóa Mùa Thu của năm 1971 tại Trường Đại Học Syracuse.

            Trong thời gian hai năm (1971-1973) theo học Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học Syracuse, tại thành phố Syracuse, thuộc tiểu bang New York của Hoa Kỳ, tôi đã có may mắn lớn nhận được sự dìu dắt, giúp đỡ và huấn luyện từ Giáo sư (GS) Pauline Atherton (về sau, bà lập gia đình với GS Cochrane nên đổi tên là Pauline Atherton Cochrane).  Mối quan hệ thầy-trò giữa GS Cochrane và tôi tiếp diễn cho mãi đến khi Ân Sư mãn phàn vào ngày 29-7-2024, hưởng thọ 94 tuổi.]

 

Hình Giáo Sư Pauline Atherton Cochrane chụp năm 2011

            GS Atherton có cho biết lý do bà làm giáo sư hướng dẫn cho tôi là vì đã được GS Khoa Trưởng chỉ định và đã cho bà cho xem hồ sơ của tôi do USAID gởi về nói rõ là theo kế hoạch đã được thỏa thuận giữa USAID và ÐHSPSG thì sau khi học xong về nước tôi sẽ có trách nhiệm thành lập Ban Thư Viện Học cho ÐHSPSG, và đó sẽ là Ban Thư Viện Học đầu tiên của Việt Nam Cộng Hoa (VNCH).  Chính vì thế, ngay từ đầu bà đã có kế hoạch nhằm đào tạo tôi không phải chỉ thành một quản thủ phụ trách quản trị thư viện mà hướng nhiều hơn về việc trở thành một giáo sư giảng dạy ngành thư viện học.  Ngay từ học kỳ đầu tiên (Mùa Thu 1971 = Fall Semester 1971), bà đã hướng dẫn tôi ghi danh học một giáo trình về phương pháp nghiên cứu.  Bà cũng hỏi tôi sau này thích giảng dạy về chuyên ngành nào trong thư viện học và tôi đã cho bà biết là tôi thích dạy về chuyên ngành biên mục (Cataloging).  Do đó bà đã hướng dẫn tôi học khá nhiều giáo trình về chuyên ngành này.  Có thể nói là trong số các ứng viên mà USAID đã chọn và gửi đi học tại Hoa Kỳ về ngành thư viện, không có một người nào học nhiều về Cataloging như tôi cả.  Trước sau, tôi đã học tất cả 3 giáo trình về chuyên ngành Biên Mục: 1) LSC 503: Organization of Information Resources; 2) LSC 624: Special Problems in Cataloging; và, 3) LSC 630: Advanced Topics in Organization of Information Resources.  Trong 3 giáo trình này thì 2 giáo trình 503 và 630 do chính GS Atherton phụ trách giảng dạy.  Cũng chính trong học kỳ mà tôi theo học giáo trình 630 đó, bà đã giúp tôi thực hiện được một điều chưa từng xảy ra tại trường Syracuse, mà có thể cũng rất hiếm xảy ra tại các viện đại học khác tại Hoa Kỳ.  Ðó là việc bà đã can thiệp và thành công để tôi được theo học một giáo trình chỉ dành cho sinh viên đang học tiến sĩ: đó là giáo trình LSC 998 Readings and Research in Library Science, là giáo trình cuối cùng trong học trình của bậc tiến sĩ với LSC 999 dành cho luận văn tiến sĩ (PhD Dissertation).   Trong lớp học cho LSC 998 lúc đó chỉ có 5 sinh viên, tôi và 4 người nữa, 1 nữ và 3 nam, tất cả đều đang học bậc Tiến sĩ.  Tôi còn nhớ người nữ sinh viên đó là một cô gái người Ấn Ðộ, tên là Kalpana Dasgupta, về sau có một thời gian (1983-1995) là Thư Viện Trưởng của Thư Viện Quốc Gia Ấn Ðộ đặt tại thành phố Kolkata (thủ đô của tiểu bang West Bengal, ngày xưa mang tên là Calcutta).  Trong suốt học kỳ, mỗi tuần, 5 người sinh viên chúng tôi thay phiên nhau mỗi người thuyết trình về một đề tài và sau đó tất cả mọi người thảo luận dưới sự điều hợp của GS Atherton.  Chúng tôi phải đọc rất nhiều sách do GS Atherton tuyển chọn tùy theo đề tài mà chúng tôi tự chọn với sự hướng dẫn của bà.  Trong lớp dành cho giáo trình LSC 630 mà tôi theo học với bà, phương pháp giảng dạy của bà cũng đặt trên căn bản tự học và thảo luận.  Mỗi tuần bà đưa ra một danh sách các chương sách và bài báo về một đề tài cho chúng tôi đọc trước, khi đến lớp thì bà nêu vấn đề để mọi người thảo luận, góp ý dựa trên những gì mình đã đọc trước trong tuần.  Nhờ vậy, những gì chúng tôi thu nhận được từ lớp học là do chúng tôi tự tìm ra dưới sự hướng dẫn của bà.  Cuối khóa cũng hoàn toàn không có kỳ thi cuối khóa kiểu bình thường như các giáo sư dạy các giáo trình khác, mà theo lối dự án (project).  Bà đưa ra một danh sách các chủ đề thuộc phạm vi học tập của giáo trình cho chúng tôi chọn.  Sau khi chọn xong chủ đề rồi thì mỗi người tự đặt ra cho mình một bảng câu hỏi (tối thiểu là 20, và tối đa là 50) và viết ra câu trả lời cho từng câu hỏi với ghi chú đầy đủ về tài liệu đã sử dụng để trả lời câu hỏi đó.  Do đó, thật sự mà nói, thực hiện xong dự án, chúng tôi hiểu biết và hoàn toàn nắm vững các vấn đề trong nội dung của giáo trình mà bà muốn truyền đạt cho chúng tôi.  Với kiến thức về sư phạm mà tôi đã có được qua thời gian 3 năm học ở trường ÐHSPSG (1960-1963), và qua kinh nghiệm 8 năm dạy học (1963-1971), tôi thật sự nhận ra tính tối ưu của phương pháp giảng dạy của GS Atherton.

            Sau khi kết thúc học kỳ mùa Xuân (Spring Semester 1973) vào cuối tháng 4-1973, tôi hoàn tất chương trình Cao học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS Program).  Chương trình này đòi hỏi ứng viên phải học và đậu 12 giáo trình, và tôi đã hoàn tất đòi hỏi này, như đã ghi rõ trong bảng điểm chính thức (Transcript) của Viện Đại Học Syracuse như sau:

Hình 1.17. Bảng điểm chính thức của Phòng Học Vụ Viện Đại Học Syracuse

 

            Giữa tháng 5-1973, tôi rời Trường Syracuse để về thủ đô Hoa Kỳ, Washington, D.C., làm thủ tục về nước.  Sau khi hoàn tất thủ tục này, tôi được USAID sắp xếp cho đi dự một khóa hội thảo trong một tuần lễ về truyền thông (Communications Seminar) tại tiểu bang Ohio.  Sau khóa hội thảo này, tôi mới thật sự chính thức lên đường về nước.  Tôi về đến phi trường Tân Sơn Nhứt vào lúc 11 giờ sáng ngày 28-5-1973, cũng với một chuyến bay của hãng hàng không Pan Am, nhưng lần này là một chiếc Boeing 747 khổng lồ.  Hơn hai tháng sau, tôi nhận được văn bằng MLS do Viện Đại Học Syracuse gửi sang.

 

Hình 1.18. Bằng Master of Library Science (MLS) của Viện Đại Học Syracuse

 

Hội Thư Viện Việt Nam

            Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN) đã được chính thức thành lập vào ngày 12-12-1959 với ông Phan Vô Kỵ, lúc đó là Chánh Sự Vụ Sở Lưu Trử Công Văn và Thư Viện Quốc Gia, và với Cố Vấn Tối Cao là ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống Ngô Dình Diệm, là người Việt Nam đàu tiên tốt nghiệp Trường Văn Khố nổi tiếng của Pháp tại Paris là Trường Ecole des Chartes, va cũng đã từng giữ chức vụ Phó Giám Dốc Thư Viện Đông Dương tai Hà Nội trong thời Phap thuộc.  Mặc dù vậy, HTVVN đã không thực hiện được nhiều công tác chuyên môn trong suốt lịch sử 15 nam của hội, ngoại trừ việc xuấ bản được hai cuốn sách quan trọng sau đây:

·         Phương Pháp Tổng Kê và Phân Loại Sách do Bà Nguyễn Thị Cút dịch từ nguyân tác tiếng Anh Cataloging and Classification of Books do ông Richard K. Gardner, Cựu Cố Vấn Thư Viện, Phái Ðoàn Cố Vấn của Ðại Học Michigan tại Việt Nam biên soạn, và bà Nguyễn Thị Cút, Phụ Tá Thư Viện, Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn phiên dịch;

·         Lưu Trữ Hồ Sơ của ông Nguyễn Hùng Cường.

Cả 2 cuốn sách quan trong này đều được Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (The Asia Foundation) tài trợ trong việc xuất bản..

Đầu năm 1974, tôi ra ứng cử và đắc cử chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành của Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN):

Danh Sach Ban Chấp Hành HTVVN – Nhiệm Kỳ 1974

            Với một Bn Chấp Hành mới gồm một số khá đông các anh chị em trẻ tuổi, chỉ trên dưới 30 thôi, có nghiệp vụ cao vì đã tốt nghiệp tứ các trương đại hoc thư viện của Mỹ và Úc, lại có tinh thần hoạt đọng bát vụ lợi, HTVVN đã đề ra một chương trình họat động rất tích cưc gồm các dự án công tác quan trọng như sau:[3]

·         Xuất bản Thư Viện Tập San (TVTS) như một quý san, ba tháng ra một số, một năm đủ 4 số; đồng thời cũng xuất bản tờ Bản Tin (BT), mỗi tháng ra một số, giữa các số của TVTS

·         Tổ chức 2 Khóa Huấn Luyện Căn Bản Thư Viện Học dành cho hội viên

·         Tổ chức một Đại Hội Hè để thảo luận một số vấn đề chuyên môn và nội bộ của Hội

·         Chấn chỉnh và kiện toàn tình trạng hội viên của Hội

·         Ấn hành một số tài liệu chuyên môn

 

Được sự ủy quyền của Ban Chấp Hành, và với tư cách Chủ Tịch của HTVVN, tôi đã đích thân đi gặp vị Đại Diện của Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (The Asia Foundation) tại Việt Nam, lúc đó là ông Julio Andrews, trình bày chương trình hoạt động này và xin tài trợ.  Độ một tuần lễ sau, HTVVN nhận được văn thư của The Asia Foundation báo cho biết họ chấp nhận tài trợ một phần các dự án trong chương trình hoạt động này của Hội.  Nhờ sự tài trợ này, Ban Chấp Hành đã thực hiện được một phần quan trọng của chương trình hoạt động đã đề ra cho nhiệm kỳ 1974, dặc biệt là 2 Khóa Huấn Luyện Căn Bản Thư Viện Học hoàn toàn miễn phí cho hội viên.  Các hội viên tham dư đếu được cáp phụ cấp vãng phản 150 đông một ngày [4] giống như các giáo sư đi gát thi và chấm thi Tú Tài.  Các hội viên ở các tỉnh xa còn được cấp luôn cả vé máy bay khứ hồi.  Cả 2 khóa huấn luyện đã thành công thật tốt đẹp.  Các buổi Lễ Khai Giảng và Lễ Mãn Khóa đều đã được tổ chức rát long trọng tại Đại Giảng Đường 19 của Viện Đại Học Vạn Hanh và đặt dưới sụ đồng chủ tọa của Thượng Tọa Thích Mãn Giác, Phó Viện Trưởng, Viện Đại Học Vạn Hạnh và Giáo Sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Giáo Duc Đặc Trách Văn Hóa.

 

Giáo sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa, đọc diễn văn tại Lễ Khai Giảng Khóa Huấn Luyện

 

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn,

trao Chứng Chỉ Tốt Nghiệp cho Học viên Khóa Huấn Luyện

 

 

Tiệc trà sau Lễ Bế Giảng Khóa Huấn Luyện tại Câu Lạc Bộ của

Viện Đại Học Vạn Hạnh

 

Ban Thư Viện Học

 

            Được chứng kiến tận mát tất cả các hoat động kể trên, hoàn toàn phù hợp với đường lối giáo dục của Viện Đại Hoc Vạn Hạnh, Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đã quyết định thành lập cho Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, lúc đó Khoa Trưởng là Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, một Ban Thư Viện Học (BTVH), và cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên cho BTVH.

 

            BTVH đã khai giảng khóa học đàu tiên vào đàu năm học 1974-1975 với 70 sinh viên, và với các giáo trình và giảng viên như sau:[5]

 

Học Kỳ 1:

·         Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I

·         Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện

·         Ông Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu

·         Ông Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện

            Học Kỳ 2:

·         Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II

·         Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn

·         Ông Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát

·         Ông Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I

 

Học Kỳ 2 khởi sự vào khoảng tháng 3-1975 đã không bao giờ được kết thúc vì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975 chấm dứt sự hiện hữu của VNCH.  BTVH của Đại Học Vạn Hạnh đã bị chết non, chưa đào tạo được một vị Cử Nhân Thư Viện Học nào cho Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cả. 

 

Thời Gian Sống Tại Canada

 

Tại Montréal

 

            Khi mới đến Canada, vì là do sự bảo lãnh của Anh Tư tôi [6] nên gia đình tôi phải sống tại Montréal, tỉnh bang Québec, và các con tôi phải học tiếng Pháp, một điều mà tôi không thích vì không tốt cho tương lai của chúng.

 

            Vì sự kỳ thị đối với người Anh-Mỹ và đối với tiếng Anh của người dân và chính phủ Québecois, tôi đã không thể tìm được việc làm chuyên môn với bằng MLS của tôi từ một đại học Mỹ, và tôi phải chấp nhận làm một công việc lao động khưân vác trong một kho hàng, làm ca đêm, từ 4 giờ chiều đến 12 giờ khuya.  Nhiều đêm, khi đã xong việc, đứng đón xe búy trong cái lanh kinh người của mùa Đong Canada, tôi đã không cầm được nước mát vì quá tủi thân: đang từ đia vị cua một giáo sư đại hoc tại Việt Nam tôi đã rơi xuống nấc thang cuối cùng trong xã hôi Canada là làm một anh cu-li khuân vác.

 

            Việc làm lao động khuân vác này kéo dài gần 6 tháng cho đến khi tôi tìm được một công việc làm chuyên môn, chỉ là làm hợp đồng thôi (conract job,) tại Thư Viện Trung Ương (Central Library) của Bộ Canh Nông (Agriculture Canda) tai thủ đô Ottawa.

 

 

Tại Ottawa

           

            Công việc làm tại đây là chuyển đổi các thẻ thư mục đánh mày (typed catalog cards) trên các thẻ thư mục bằng giấy cứng khổ 3 x 5 inch chứa trong các tủ thư mục bằng gỗ (wooden card catalogs) sang dạng ký lục thư tịch điện tử (electronic bibliographic records) bằng một máy vi tính cở trung (mini-computer) và sử dụng một phần mềm (software) có tên là UTLAS (University of Toronto Library Automation Systm).  Công việc chuyển đổi này là thực hiện cho bộ sưu tập báo chí rất lớn, có đến 30.000 nhan đề, cũa Thư Viện.  Bộ Canh Nông đã lên kế hoạch thực hiện dự án công tác này trong 5 năm,

1980-1985.  Khi tôi nhân việc thì mới là bắt đàu của năm thứ ba nên tôi rất yên tâm làm việc vì cứ nghĩ là còn có thể ký hợp đồng thêm 2 năm nữa.  Nhưng quả thật đúng như Ông Bà mình đã thường dạy con cháu là: “Chuyện đời khó nói lắm.  Ai mà biết trước được chuyện tương lai.”   Mới làm được độ 6 tháng thì tôi được thông báo là Bộ Canh Nông đã bị cắt ngân sách và dự án công tác này phải chấm dứt vào cuối tài khóa liên bang 1982-1983, túc là vào ngày 31-3-1983.

 

            Sau đó, tôi đã phải trải qua hơn một năm trời bị thất nghiệp lhoặc chỉ làm toàn những công việc hợp đồng lặt vặt, ngắn hạn, 4 tháng tại Bộ Sắc Tộc và Bắc Vụ (Department of Indian and Northern Affairs), 2 tháng tại Bộ Tư Pháp (Department of the Solicitor General) cho đến tháng 8-1984 khi tôi tìm được một việc làm thật tối, hoàn toàn ổn định (stable), thường trực (permanent, toàn thời gian (full-time), và lương cao (high-salaried) tại một cơ quan của chính phủ liên bang Canada, chuyên về thông tin an toàn lao động, tại thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, có tên là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS) = Centre canadien d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST).

 

Tại Hamilton

 

            Tôi đã làm việc liên tục tại CCOHS trong hơn 8 năm (1984-1992) và trải qua các chức vụ như sau:

 

·         Inventory Cataloguer: 1984-1985

·         Manager, Online Catalogue: 1985-1986

·         Manager, Database Development Department: 1986-1988

·         Manager, Database and Information Resource Development Department: 1988-1992

 

Tháng 9-1992, tôi bị cho nghỉ việc, trở thành nạn nhân của cuộc đấu đá chính trị giữa 2 chính dảng lớn của Canada là Đảng Tự Do (Liberal Party = Parti libéral) và Đảng Bảo Thủ (Conserative Party = Parti conservateur).  CCOHS được thành lập từ năm 1979 khi Đảng Tư Do, có chủ trương ủng hộ giới công nhân, đang câm quyền.  Bây giờ là nam 1992, Đảng Bảo Thủ, có chủ trương ủng hộ giới chủ nhân, đã chiếm được chính quyến.  CCHS đã trỏ thành một cái gai trong mắt của Đảng Bảo Thủ và ho quyết tâm phá hoai CCOHS.  Việc họ làm trước tiên là cách chức ngay lập Tức Tiến Sĩ Gordon Atherley, President của CCOHS, một chuyên gia về an toàn lao động hàng đàu của cả thế giới.  Ké tiếp họ làm áp lực khiến cho tất cả 4 vị Giám Đốc (Directors) phải tù chức và rời khỏi CCOHS.  Và, sau cùng, ho cho nghĩ viêc hết tát cả 16 vị Trưởng Ban (Managers).  Tôi bị cho nghỉ việc vào ngày 30-9-1992 cùng một lúc với 3 Managers khác.

 

Sau khi mất việc tại CCOHS, tôi đã trải qua 5 năm trời lận đận, làm toàn những công việc hợp đồng, khi thì 6 thàng, lúc thì 3 tháng, thậm chí có một lần chỉ có 1 tháng, thay cho một nhân viên thư viện bị thương nhẹ trong một tai nạn xe cộ, phải nằm bệnh viện 4 tuần lễ.  Việc này chỉ chấm dứt khi tôi nhận được một việc làm ổn đinh và thường trực tai Thư Viện của Trường Đại Học Saskatchewan, tại thành phố Saskatoon, trong vùng Đại Bình Nguyên của Canda (Canada’s Grande Prairie), với chức vụ Trưởng Ban Biên Mục (Head, Cataloguing Department), và được xếp vào bậc Librarian 3, với thời gian thử thách (probation period) là 3 năm, 1997-2000.

 

Tại Saskatoon

 

            Tôi bắt đầu làm công việc mới này vào ngày 2-9-1997.  Lúc đó, Ban Biên Mục gồm có tất cả là 22 nhân viên như sau:

 

·         3 quản thủ thư viện – biên mục viên (Librarian-cataloguer), cấp bậc Librarin 4 (cấp cao nhứt của Librarian), lm việc toàn thời gian (full-time)

·         1 Librarian-Cataloguer, cấp bậc Librarian 3, làm bán thời gian (part-time)

·         18 nhân viên thư viện trung cấp (Library Assistant = LA) gồm:

o   4 Tổ Trưởng (Team Leader), cấp bậc LA-5 (cấp cao nhứt của các LA)

o   14 nhân viên biên mục viên sao chụp (copy cataloguer), cấp bậc LA-4 và LA-3

 

Phần lớn các nhân viên trung cấp đều không được đao tạo chính quy, họ là những người nghề dạy nghề, sống lâu lên lão làng.  Họ nắm được thật vững, công việc, biết rất rõ phải làm ra sao, nhưng hoàn toàn không biết tại sao phải làm như vậy.

 

Huấn Luyện Nhân Viên

 

Sau khi nắm rõ quá trình đào tạo của nhân viên, tôi đã soạn thảo một chương trình huấn luyện về Biên Mục trong 4 ngày, trình lên cho Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC) cứu xét.  LMC đã thảo luân rất kỷ lưởng và chấp thuận cho thực hiện.  Chương trình gồm các chi tiết như sau:[7]

 

·         . Ngày thứ nhứt (27-4-1998):

o   Phần Một: Các Nguyên Tắc Về Biên Mục

§  Các chức năng của Thư Mục

·         Các mục tiêu của Thư mục: Giúp tìm tài liệu và Giúp tập hợp tài liệu

·         Tác động của các đổi mới về công nghệ đối với Thư mục

·         Phát triển của Thư mục: từ thẻ đến Thư mục trực tuyến trên Web

§  Tính đồng nhất của các Điểm Truy Cập

·         Các mối quan hệ về thư tịch

·         Lý do: Chức năng tập hợp tài liệu của Thư mục

·         Thực hiện: Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn

§  Cơ cấu truy cập theo chủ đề

·         Tính hai mặt của truy cập theo chủ đề

·         Truy cập theo đường thẳng: Số phân loại

·         Truy cập đa chiều: Tiêu đề chủ đề

·         Tiềm năng tăng cường truy cập theo chủ đề: Bảng Mục Lục của sách

o   Phần Hai: Tầm quan trọng của Mô tả

§  Các Nguyên tắc về Mô tả

·         Tài liệu đang nắm trong tay

·         Các nguồn thông tin

·         Tiêu chuẩn quốc tế về mô tả ISBD (International Standard Bibliographic Description)

§  Tổ chức việc mô tả

·         Các vùng mô tả

·         Thứ tự mô tả

·         Mô tả trực tuyến: Khổ mẫu MARC

§  Thứ tự quan trọng của các đơn vị mô tả

·         Nhan đề

·         Tùng thư

·         Ấn bản

·         Năm xuất bản

§  Tầm quan trọng của ghi chú

·         Lý do: Tại sao và khi nào làm ghi chú

·         Cơ cấu của ghi chú: Cách làm và thứ tự

o   Phần Ba: Các điểm truy cập

§  Điểm truy cập chính và phụ

·         Tác giả hay Nhan đề là Điểm truy cập chính

·         Điểm truy cập chính trong môi trường trực tuyến

·         Các điểm truy cập phụ trong chức năng Tìm tài liệu và Tập hợp tài liệu

§  Các điểm truy cập theo tên

·         Tên cá nhân: Tên tiếng Anh và Tên các ngôn ngữ khác

·         Tên tập thể: Hội đoàn, Chính phủ, Hội nghị

§  Các điểm truy cập theo nhan đề

·         Các hình thức khác nhau của nhan đề

·         Nhan đề đồng nhất

§  Các điểm truy cập theo tùng thư

·         Tùng thư được ghi

·         Tùng thư không được ghi

·         Tùng thư ghi một cách khác

§  Các điểm truy cập theo chủ đề

·         Các số phân loại

·         Các tiêu đề chủ đề

§  Các điểm truy cập khác

·         Các số tiêu chuẩn (ISBN, ISSN)

·         Các loại số khác

§  Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn

·         Các hệ thống: Tên và Chủ Đề

·         Các thủ tục: Thủ công và trực tuyến

·         Hệ thống sẽ trang bị: LTI (Library Technologies, Inc.)

·         Ngày thứ nhì (28-4-1998)

o   Phần Bốn: Số phân loại và Tiêu đề chủ đề

§  Hệ thống Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ

·         Lịch sử

·         Cấu trúc

·         Các bảng phân loại

·         Các bảng cập nhật

·         Chính sách của Thư viện Đại Học Saskatchewan về Văn Học và Luật

·         Ngày thứ ba (29-4-1998)

§  Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ

·         Cơ cấu

·         Các tiểu phân mục

·         Các bảng cập nhật

·         Kiểm soát tiêu đề chuẩn

§  Hệ thống phân loại Dewey [5]

·         Lịch sử

·         Cơ cấu

·         Phân mục 370: Giáo Dục

·         Ngày thứ tư (30-4-1998)

o   Phần Năm: Các dụng cụ làm việc

§  Cataloger’s Desktop

·         Khổ mẫu USMARC

·         Cẩm nang Biên mục chủ đề (Subject Cataloguing Manual)

·         Giải thích các Quy tắc Biên mục của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (LC Rule Interpretations)

§  Classification Plus

·         Các Bảng Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ

·         Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ

§  Các dụng cụ có trên Internet

·         WebCATS

·         TPOT

·         Cẩm nang biên mục các tài liệu ngoại quốc

·         Cổng LC Z39-50

 

            Vào cuối Khóa huấn luyện, các học viên đã được yêu cầu điền vào bảng đánh giá khóa học (evaluation form).  Đa số học viên đã đánh giá khóa học từ Rất Tốt đến Xuất Sắc (from Very Good to Excellent).

 

Thăng Cấp Tại Đại Học Saskatchewan

            Sau khóa hu61n luyện vài tuần lễ, LMC đã thăng cấp cho tôi l6n làm Trưởng Khối, Dịch Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division), trông coi luôn cả 2 Ban là Ban Biên Mục mà tôi đang làm Trưởng Ban, và Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department, cũng gồm 22 nhân viên), chịu trách nhiệm về việc mua sắm tài liệu sách báo cho Thư Viện, cũng như trao đổi tài liệu sách báo với các thư viện đại học bạn.  Và với chức vụ mới này, tôi cũng đương nhien trở thành một thành viên thường trực của LMC luôn.

            Ba năm sau, sau khi tôi đã đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn thăng cấp đề ra trong tài liệu University Library Standards for Promotion and Permanent Status (Những Tiêu Chuẩn của Thư Viện Đại Học về Thăng Cấp và Biên Chế Thường Trưc), tôi được Trường thăng cấp lên Librran 4 sau một tiến trình hết sức gay go và cay đắng vì gặp sự chống đối gay gắt từ một nhóm Librarian 4 trong thư viên do sụ ganh tị nhỏ nhen của họ.  Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởn Đặc Trách Học Vụ (Vice-President for Academic Affairs) rất bực mình trước thái độ rất là, như chính ông đã phát biểu, unprofessional, và, vì vậy, ông đã đơn phương quyết định thăng cấp cho tôi lên Librarian 4 mà không thèm đếm xỉa gì đến sự phản đối hết sức vô lý đó (đúng là một cát như trời giáng cho nhòm Librarin 4 nhỏ nhen đó) như ghi rõ trong văn thư hính thức sau đây:[8]    

“On behalf of the University Review Committee, I am pleased to inform you that the Committee has recommended to the Board of Governors that you be promoted to the rank of Librarian IV effective July 1, 2002.  Congratulations!  You should receive a letter from the Board of Governors later this month.

The documentation provided supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date.  Our recommendation to the Board of Governors is a vote of confidence in you as a senior member of the university community and in your continuing contribution to the academic life and vitality of the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thay mặt Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học, tôi vui mừng báo tin cho ông là Ủy Ban đã khuyến cáo với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học để ông được thăng cấp lên Quản Thủ Thư Viện Bậc IV kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2002.  Xin chúc mừng ông!  Ông sẽ nhận được văn thư của Hội Đồng Quản Trị vào cuối tháng này.  Hồ sơ đã được đệ trình để hỗ trợ cho trường hợp của ông đã chứng minh rằng các đồng nghiệp của ông tại trường cũng như từ khắp Canada, và cà quốc tế, đã công nhận những thành quả mà ông đã đạt được cho đến ngày hôm nay.  Khuyến cáo của chúng tôi với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học là một lá phiếu xác nhận sự tin tưởng của chúng tôi đối với ông với tư cách là một thành viên cao cấp của cộng đồng đại học, và đối với sự tiếp tục đóng góp của ông cho sự nghiệp và sức sống của Đại Học Saskatchewan.”)

 

Nghỉ Phép Đi Làm Nghiên Cứu (Sabbatical Leave)

          Giống như tấ cả các đại học tại Bắc Mỹ, Đại Học Saskatchewan cũng có quy chế cho phép các giáo sư được nghỉ phép dài hạn để đi làm công tác nghiên cưu như sau: 1) Nghỉ 6 tháng và được hưởng 100% lương sau khi đã làm việc liên tục được 3 năm; và 2) Nghỉ 1 năm và được hưởng 80% lương sau khi đã làm việc liên tục được 6 năm.  Ngoài ra, đại Học còn có thêm một quy chế đặc biệt nữa là xếp các quản thủ thư viện vào chung một nghiệp đoàn với các giáo sư, và, nhờ vậy, tôi cũng được nghỉ pháp Sabbatical Leave trọn 1 năm, từ ngày 1-7-2003 cho đến ngày 30-6-2004.  Trong thời gian nghỉ phép 1 năm đó, tôi đã hoàn tất được 2 dự án nghiên cứu, và viết thành 2 bài báo sau đây:

·         Vinh-The Lam, “Quality control issues in outsourcing cataloging

·         in US and Canadian academic libraries,” Cataloging &

classification quarterly, tập 40, số 1 (2005), tr. 101-122.

·         Vinh-The Lam and D. Friesen, “A Web-based database of CIA

declassified documents on the Vietnam War,” Online, tập 28,

số 4 (2004), tr. 31-35.

 

Nghỉ Hưu

            Ngày 1-7-2004, tôi trở về Thư Viện của Trường Đại Học Saskatchewan, và thôi không giữ các chức vụ chỉ huy nữa như đã thỏa thuận với ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện, trước khi đi nghỉ phép, và chỉ còn làm công tac chuyên môn thôi, với chức vụ Biên Muc Viên Nguyên Thủy Cao Cấp (Senior Original Cataloguer) cho đến lúc chính thức nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006.

 

 

 

Thay Lời Kết:

            Cuộc hành trình 85 năm đã đưa tôi đi qua khá nhiều những mốc thời gian rất quan trọng trong cuộc đời tôi.  Tôi đã trải qua 17 năm trong việc học hành thi cử, 15 năm trong nước và 2 năm tại hải ngoại (Hoa Kỳ), cả 2 nơi đều đạt được kết quà hết sức tốt đẹp.  Tôi đã làm tròn nhiệm vụ trong việc dạy học, ở cả 2 cấp Trung Học và Đại Học tại Việt Nam cũng như tại Canada.  Tôi đã điều hành và phát triển rất tốt một hội đoàn văn hóa tư trong nước, Hội Thư Viện Việt Nam.  Tôi đã thành công thiết lập được Ban Thư Viện Học đầu tiên ở cấp đại học cho VNCH.  Và, sau cùng, khi đã định cư tại quê hương mới, Canada, tôi cũng đã tạo được một số bước đáng kể trong việc phát triển ngành Thư Viện Học cho Canada nói riêng và cho cả Bắc Mỹ nói chung.     

 

GHI CHÚ:

 

1.     Lâm Vĩnh-Thế.  Môt ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/mot-nga-re-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-the/

2.     Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, tr. 41-45.

3.     Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 52.

4.     Lê Nguyễn.  Lương bổng, phụ cấp của quân nhân công chức miền Nam trước tháng 4.1975,    tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Lương Bổng, Phụ Cấp của Quân Nhân – Công Chức miền Nam trước tháng 4.1975 – Lê Nguyễn – dòng sông cũ  

5.     Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhie5m vụ …, sđd, tr. 62

6.     Anh Tư tôi tên là Lâm Vĩnh-Tế, sinh năm 1939, du học Canada với một học bồng của Kế HOạch Colombo (Colombo Plan) từ năm 1960, tốt nghiệp Tiến Sĩ Hóa Lý (PhD in Physical Chemistry) tại Đai Học Montréal năm 1967 và đã dạy học tại đó cho đến khi mãn phần vào năm 2000.

7.     Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ…, sdd, tr. 130-133.

8.     Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ…, sdd, tr. 139.