Giáo Sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban
Ban Thư Viện
Học, Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian
Emeritus
Đại Học
Saskatchewan, 1997-2006
CANADA
Tôi
sinh năm 1941 tại xã Bình Hòa, quận Gò Vắp, tỉnh Gia Định, Việt Nam, và hiên nay, ở năm 2026 này, đang sống tai thành
phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, Canada.
Tôi đã có được một cuộc hành trình khá dài, trong 85 năm, và đã trải qua
khá nhiều thăng trầm trong cuộc sống.
Bài viết này là một cố gắng cuối đời nhằm ghi lại những kỷ niệm vui buồn
trong cuộc đời, những chuyện đã không làm được dù đã hết sức muốn làm, cũng như
những chuyện đã làm được cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội và cho đất nước,
tại quê hương Viêt Nam nơi tôi chào đời, cũng như tại Canada, nơi tôi đã chọn để
định cư hơn 40 năm qua.
Thời
Gian Sống Tại Việt Nam
Tôi đã sống tại Việt Nam được gần nửa thế kỷ, tất cà là
40 năm (1941-1981). Trong khoảng thời
gian 40 năm đó, tôi dành ra 15 năm cho việc học hành thi cử, từ bậc Tiểu Học đến
bậc Đại Học như sau:
Thòi
Gian Học Hành Thi Cử
Trong
thời gian học ở bậc Tiểu Học, tôi đã theo học suốt 5 năm (1948-1953) tại Trường
Nam Tiểu Học Đakao, và đã thi đậu cả 2 bằng cấp của bậc Tiểu Học là Bằng Sơ Đẳng
Tiểu Học và Bằng Tiểu Học
Bằng
Sơ Đẳng Tiểu Học năm 1951 – Có Phần Pháp Văn (ghi chữ đỏ)
Bằng
Tiểu Học năm 1953
Hè năm 1953, sau khi đã đậu bằng Tiểu Học, tôi nộp đơn
xin dự kỳ thi tuyển vào các lớp đệ thất của ngôi trường trung học lớn nhứt và
danh tiếng nhứt của Mền Nam là Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, mà đồng
bào Miên Nam thường chỉ gọi tát là Trường Petrus Ký. Đây là một kỳ thi tuyển rất khó khăn vì số
thí sinh dự thi rất đông, có thể lên đến hàng ngàn người, trong khi Trường
Petrus Ký chỉ láy vào khoảng 500 học sinh cho 10 lớp đệ thất mà thôi. Vì vậy, thật là một may mắn rất lớn cho bản
thân tôi, là tôi đã thi đậu, và được xếp hạng 355 trên tổng số 500 thí sinh
trúng tuyển của năm đó.
Bậc Trung Học
Khi mới nhập học, tôi được xếp vào Lớp Đệ Thấ B6, sau nửa
năm học, tên lớp được đổi thành Lớp Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp mới này được
giữ mãi cho đến hết bậc Đệ Nhứt Câp: Đệ Thất F (1953-1954), Đệ Lục f
(1954-1955), Đệ Ngũ F (1955-1956), và Đệ Tứ F (1956-1957). Cuối năm học 1956-157, toi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp với hạng Bình Thứ.
Bằng
Trung Học Đệ Nhưt Cấp
năm
1953, hạng Bình Thứ
Lên bậc Đệ Nhị Cấp, tôi cũng đã may mắn được tiếp tục học
tai Trường Petrus Ký suốt 3 niên khóa: Lớp Đệ Tam A (1957-1958), Lớp Đệ Nhị A
(1958-1959), và Lớp Đệ Nhứt A1 (1959-1960).
Cuối năm Lớp Đệ Nhị A, tôi thi đậu bằng Tú Tài, Phần 1, Ban A (Vạn Vật),
hạng Bình Thứ, và cuối năm Lớp Đệ Nhứt A1, tôi thi đậu bằng Tú Tài, Phần
2, cũng Ban A, hang Thứ:
Bằng
Tú Tài – Phần 1 (1959), hạng Bình Thứ - Phần 2 (1960, hạng Thứ
Sau
khi đậu bằng Tú Tài Phần 2, tôi đã nộp đơn xin dự kỳ thi tuyển vào năm thứ nhứt,
cũng rất là khó khăn, của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), và, cũng rất
may mắn,tôi cũng đã trúng tuyển.
Bậc Đại Học
Trong thời gian 3 năm (1960-1963) theo học Ban Sử Địa của
Trường ĐHSPSG, tôi cũng đã đạt được thành tích học tập rất đáng kể như sau:
·
Thi
vào Trường:tôi đã đậu hạng 4 trên tông số 35 thí sinh trúng tuyển
·
Thi
lên năm thứ hai: tôi đã đậu hạng 3
·
Thi
lên năm thứ ba: tôi đã đậu hạng 2
·
Thi
tốt nghiệp: bạn bè ai cũng nghĩ là tôi sẽ đậu Thủ Khoa, nhưng thật đáng buồn,
tuy vẫn đậu với hạng Bình Thứ, tôi đã bị tuột xuống tới hạng 13; lý do:
một tuần lễ trước ngày thi, tôi bị bệnh rât nặng, đã tưởng là không thể đi thi
được rồi, chính hôm thi, Mẹ tôi phải mướn 1 chiếc xe taxi và đích thân Mẹ tôi
đưa tôi đi thi.
Chúng
Chỉ Tốt Nghiệp Trường ĐHSPSG – Giáo Sư Khoa Trưởng
Bùi
Xuân Bào ký ngày 24-4-1963
Thời
Gian Làm Việc
Trường Trung Hoc Công Lập
Kiến Hòa (1963-1966)
Sau khi tốt nghiệp ĐHSPSG, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm
vào ngạch Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp (GSTHĐ2C), và nhiệm sở đàu tiên là Trường
Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre, sau đây sẽ ghi tắt là Trường Kiến Hòa).
Cổng
chính của Trường Kiến Hòa
Tôi đã dạy học, môn Sử Địa, tại Trường Kiến Hòa trong 3
niên khóa (1963-1966). Lúc tôi về nhận việc, trường đã có một giáo sư môn Sử Địa
rồi, và đó là Giáo Sư Lê Như Dực, một đàn anh của tôi, đã tốt nghiệp ĐHSPSG,
Ban Sử Địa, Khóa 1 (1961):
Hình
Giáo Sư Lê Như Dực lúc dạy học tại Trường Kiến Hòa
Di
ảnh Cố Giáo Sư Lê Như Dực tại tang lễ, mãn phần ngày 25-5-2025
Anh
Dực và tôi bàn nhau và quyết định phân chia trách nhiệm như sau: Anh Dực dạy Sử
và tôi day Địa. Thế là tôi nghiểm nhiên
trở thành “Ông Địa” của Trương Kiến Hòa. Chỉ sau một năm học, tôi đã tạo được một kỳ
tích tại Trường Kiến Hòa. Đó là chấm dứt
được cái nạn học sinh “cúp cua” giờ học môn Đia Lý vi cho là nó
quá khô khan, chẳng có gì hấp dẫn, không đáng bỏ giờ ra học. Với nhiệt tình của bản thân tôi đối với môn học
này, cũng như kiến thức rộng về môn Địa Lý do 3 năm được đào tạo chính quy tại
ĐHSPG và việc chiu khó tự rèn luyện thêm
(do đọc rất nhiều tài liệu sách báo Anh-Pháp), tôi đã giảng cho học sinh
các lớp đệ nhị cấp hiểu rõ các hiện tượng địa lý thiên nhiên (đặc biệt là về
khí hậu, thế nào là Gió Mùa, thế nào là Gió Lào, và nhứt là thế nào là Gió Chướng
tại Đồng Bằng Sông Cửu Long), địa lý nhân văn (các sắc dân, các chế độ chính trị),
và địa lý kinh tế (các cường quốc kinh té của thế giới hiện đại, sự hinh thành
và phát triển của chúng, cũng như tác động và ảnh hưởng lên các nước nhược tiểu).
Trường Trung Hoc Kiểu Mẫu
Thủ Đức (1966-1971)
Sau 3 năm dạy học tại Trường Kiến
Hòa, tháng 9-1966, tôi được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu
Mẫu Thủ Đức (KMTĐ). Tôi đã dạy môn Kiến
Thức Xã Hội (tên mới của môn Sử Đia tại Trường KMTĐ) tại Trường KMTĐ trong 4
năm (1966-1970) cho đến khi, do một tình cờ của định mệnh,[1] tôi chuyển sang làm công tác thư viện,
và, nhờ vậy, đã được Cơ Quan Viện Trợ Mỹ (United States Agency for
International Development = USAID) cấp cho một học bổng đi du học Hoa Kỳ trong
2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, Viện Đại Hoc Syracuse (School of Library
Science, Syracuse University = SLSSU), tại thành phố Syracuse, tiểu bang New
York.
Hai Năm Du Học Hoa Kỳ
(1971-1973)
Chuyến chuyên cơ Boeing-707 của Hãnh
Hàng Không Hoa Kỳ PAN AM, đưa tôi đi Mỹ, rời Phi Trường Tân Sơn Nhứt vào lúc 11
giờ sáng ngày 9-8-1971.[2]
Sau hai trạm dừng tại Hong Kong
và Tokyo, chiếc Boeing 707 vượt ngang Thái Bình Dương và đáp xuống phi trường
Honolulu tại tiểu bang Hawaii vào lúc 9 giờ sáng của cùng ngày 9-8-1971. Sau khi làm xong thủ tục di trú, tôi được đưa
về East-West Center nằm trong khuôn viên của Trường Đại Học Hawaii. Tôi sẽ ở đây trong 3 tuần lễ để dự một khóa
huấn luyện gọi là Pre-University Workshop.[5]
Nhờ khóa huấn luyện này tôi đã không gặp nhiều khó khăn khi bắt đầu vào học
Khóa Mùa Thu của năm 1971 tại Trường Đại Học Syracuse.
Hình Giáo Sư Pauline Atherton
Cochrane chụp năm 2011
GS Atherton có cho biết lý do bà
làm giáo sư hướng dẫn cho tôi là vì đã được GS Khoa Trưởng chỉ định và
đã cho bà cho xem hồ sơ của tôi do USAID gởi về nói rõ là theo kế
hoạch đã được thỏa thuận giữa USAID và ÐHSPSG thì sau khi học xong về
nước tôi sẽ có trách nhiệm thành lập Ban Thư Viện Học cho ÐHSPSG, và
đó sẽ là Ban Thư Viện Học đầu tiên của Việt Nam Cộng Hoa (VNCH). Chính vì thế, ngay từ đầu bà đã có
kế hoạch nhằm đào tạo tôi không phải chỉ thành một quản thủ phụ
trách quản trị thư viện mà hướng nhiều hơn về việc trở thành một
giáo sư giảng dạy ngành thư viện học.
Ngay từ học kỳ đầu tiên (Mùa Thu 1971 = Fall Semester 1971), bà
đã hướng dẫn tôi ghi danh học một giáo trình về phương pháp nghiên
cứu. Bà cũng hỏi tôi sau này thích
giảng dạy về chuyên ngành nào trong thư viện học và tôi đã cho bà
biết là tôi thích dạy về chuyên ngành biên mục (Cataloging). Do đó bà đã hướng dẫn tôi học khá
nhiều giáo trình về chuyên ngành này.
Có thể nói là trong số các ứng viên mà USAID đã chọn và gửi
đi học tại Hoa Kỳ về ngành thư viện, không có một người nào học
nhiều về Cataloging như tôi cả.
Trước sau, tôi đã học tất cả 3 giáo trình về chuyên ngành Biên
Mục: 1) LSC 503: Organization of Information Resources; 2) LSC 624: Special
Problems in Cataloging; và, 3) LSC 630: Advanced Topics in Organization of
Information Resources. Trong 3 giáo
trình này thì 2 giáo trình 503 và 630 do chính GS Atherton phụ trách
giảng dạy. Cũng chính trong học kỳ
mà tôi theo học giáo trình 630 đó, bà đã giúp tôi thực hiện được
một điều chưa từng xảy ra tại trường Syracuse, mà có thể cũng rất
hiếm xảy ra tại các viện đại học khác tại Hoa Kỳ. Ðó là việc bà đã can thiệp và thành
công để tôi được theo học một giáo trình chỉ dành cho sinh viên đang
học tiến sĩ: đó là giáo trình LSC 998 Readings and Research in Library
Science, là giáo trình cuối cùng trong học trình của bậc tiến sĩ
với LSC 999 dành cho luận văn tiến sĩ (PhD Dissertation). Trong lớp học cho LSC 998 lúc đó chỉ có
5 sinh viên, tôi và 4 người nữa, 1 nữ và 3 nam, tất cả đều đang học bậc Tiến
sĩ. Tôi còn nhớ người nữ sinh viên
đó là một cô gái người Ấn Ðộ, tên là Kalpana Dasgupta, về sau có một
thời gian (1983-1995) là Thư Viện Trưởng của Thư Viện Quốc Gia Ấn Ðộ
đặt tại thành phố Kolkata (thủ đô của tiểu bang West Bengal, ngày xưa
mang tên là Calcutta). Trong suốt học
kỳ, mỗi tuần, 5 người sinh viên chúng tôi thay phiên nhau mỗi người
thuyết trình về một đề tài và sau đó tất cả mọi người thảo luận
dưới sự điều hợp của GS Atherton.
Chúng tôi phải đọc rất nhiều sách do GS Atherton tuyển chọn tùy
theo đề tài mà chúng tôi tự chọn với sự hướng dẫn của bà. Trong lớp dành cho giáo trình LSC 630 mà
tôi theo học với bà, phương pháp giảng dạy của bà cũng đặt trên căn
bản tự học và thảo luận. Mỗi
tuần bà đưa ra một danh sách các chương sách và bài báo về một đề
tài cho chúng tôi đọc trước, khi đến lớp thì bà nêu vấn đề để mọi
người thảo luận, góp ý dựa trên những gì mình đã đọc trước trong
tuần. Nhờ vậy, những gì chúng tôi
thu nhận được từ lớp học là do chúng tôi tự tìm ra dưới sự hướng
dẫn của bà. Cuối khóa cũng hoàn
toàn không có kỳ thi cuối khóa kiểu bình thường như các giáo sư dạy
các giáo trình khác, mà theo lối dự án (project). Bà đưa ra một danh sách các chủ đề
thuộc phạm vi học tập của giáo trình cho chúng tôi chọn. Sau khi chọn xong chủ đề rồi thì mỗi
người tự đặt ra cho mình một bảng câu hỏi (tối thiểu là 20, và tối
đa là 50) và viết ra câu trả lời cho từng câu hỏi với ghi chú đầy đủ
về tài liệu đã sử dụng để trả lời câu hỏi đó. Do đó, thật sự mà nói, thực hiện xong
dự án, chúng tôi hiểu biết và hoàn toàn nắm vững các vấn đề trong
nội dung của giáo trình mà bà muốn truyền đạt cho chúng tôi. Với kiến thức về sư phạm mà tôi đã có
được qua thời gian 3 năm học ở trường ÐHSPSG (1960-1963), và qua kinh
nghiệm 8 năm dạy học (1963-1971), tôi thật sự nhận ra tính tối ưu của
phương pháp giảng dạy của GS Atherton.
Sau khi kết thúc học kỳ mùa
Xuân (Spring Semester 1973) vào cuối tháng 4-1973, tôi hoàn tất chương
trình Cao học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS
Program). Chương trình này đòi hỏi
ứng viên phải học và đậu 12 giáo trình, và tôi đã hoàn tất đòi hỏi
này, như đã ghi rõ trong bảng điểm chính thức (Transcript) của Viện Đại Học
Syracuse như sau:
Hình 1.17. Bảng điểm chính thức của
Phòng Học Vụ Viện Đại Học Syracuse
Hình 1.18. Bằng Master of Library Science (MLS) của Viện Đại
Học Syracuse
Hội Thư Viện Việt Nam
Hội
Thư Viện Việt Nam (HTVVN) đã được chính thức thành lập vào ngày 12-12-1959 với
ông Phan Vô Kỵ, lúc đó là Chánh Sự Vụ Sở Lưu Trử Công Văn và Thư Viện Quốc Gia,
và với Cố Vấn Tối Cao là ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và Cố Vấn Chính Trị của Tổng
Thống Ngô Dình Diệm, là người Việt Nam đàu tiên tốt nghiệp Trường Văn Khố nổi
tiếng của Pháp tại Paris là Trường Ecole des Chartes, va cũng đã từng giữ chức
vụ Phó Giám Dốc Thư Viện Đông Dương tai Hà Nội trong thời Phap thuộc. Mặc dù vậy, HTVVN đã không thực hiện được nhiều
công tác chuyên môn trong suốt lịch sử 15 nam của hội, ngoại trừ việc xuấ bản
được hai cuốn sách quan trọng sau đây:
·
Phương Pháp Tổng Kê và Phân Loại Sách do Bà Nguyễn Thị Cút dịch từ nguyân tác tiếng
Anh Cataloging and Classification of Books do ông Richard K. Gardner, Cựu Cố Vấn Thư Viện, Phái Ðoàn Cố
Vấn của Ðại Học Michigan tại Việt Nam biên soạn, và bà Nguyễn Thị Cút, Phụ Tá
Thư Viện, Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn phiên dịch;
·
Lưu Trữ Hồ Sơ của ông Nguyễn Hùng Cường.
Cả 2 cuốn sách quan trong này đều được Cơ Quan
Văn Hóa Á Châu (The Asia Foundation) tài trợ trong việc xuất bản..
Đầu năm 1974, tôi ra ứng cử và đắc
cử chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành của Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN):
Danh Sach Ban Chấp
Hành HTVVN – Nhiệm Kỳ 1974
Với
một Bn Chấp Hành mới gồm một số khá đông các anh chị em trẻ tuổi, chỉ trên dưới
30 thôi, có nghiệp vụ cao vì đã tốt nghiệp tứ các trương đại hoc thư viện của Mỹ
và Úc, lại có tinh thần hoạt đọng bát vụ lợi, HTVVN đã đề ra một chương trình họat
động rất tích cưc gồm các dự án công tác quan trọng như sau:[3]
·
Xuất bản Thư
Viện Tập San (TVTS) như một quý san, ba tháng ra một số, một
năm đủ 4 số; đồng thời cũng xuất bản tờ Bản Tin (BT), mỗi tháng
ra một số, giữa các số của TVTS
·
Tổ chức 2 Khóa
Huấn Luyện Căn Bản Thư Viện Học dành cho hội viên
·
Tổ chức một Đại
Hội Hè để thảo luận một số vấn đề chuyên môn và nội bộ của Hội
·
Chấn chỉnh và
kiện toàn tình trạng hội viên của Hội
·
Ấn hành một số
tài liệu chuyên môn
Được sự ủy quyền của Ban Chấp
Hành, và với tư cách Chủ Tịch của HTVVN, tôi đã đích thân đi gặp vị Đại Diện của
Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (The Asia Foundation) tại Việt Nam, lúc đó là ông Julio
Andrews, trình bày chương trình hoạt động này và xin tài trợ. Độ một tuần lễ sau, HTVVN nhận được văn thư của
The Asia Foundation báo cho biết họ chấp nhận tài trợ một phần các dự án trong
chương trình hoạt động này của Hội. Nhờ
sự tài trợ này, Ban Chấp Hành đã thực hiện được một phần quan trọng của chương
trình hoạt động đã đề ra cho nhiệm kỳ 1974, dặc biệt là 2 Khóa Huấn Luyện Căn Bản
Thư Viện Học hoàn toàn miễn phí cho hội viên.
Các hội viên tham dư đếu được cáp phụ cấp vãng phản 150 đông một ngày [4] giống như các giáo sư đi gát thi và
chấm thi Tú Tài. Các hội viên ở các tỉnh
xa còn được cấp luôn cả vé máy bay khứ hồi.
Cả 2 khóa huấn luyện đã thành công thật tốt đẹp. Các buổi Lễ Khai Giảng và Lễ Mãn Khóa đều đã
được tổ chức rát long trọng tại Đại Giảng Đường 19 của Viện Đại Học Vạn Hanh và
đặt dưới sụ đồng chủ tọa của Thượng Tọa Thích Mãn Giác, Phó Viện Trưởng, Viện Đại
Học Vạn Hạnh và Giáo Sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Giáo Duc Đặc Trách Văn Hóa.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Viện Trưởng Viện Đại Học
Sài Gòn,
trao Chứng Chỉ Tốt Nghiệp
cho Học viên Khóa Huấn Luyện
Tiệc trà sau Lễ Bế Giảng Khóa Huấn Luyện tại Câu Lạc Bộ của
Viện Đại Học Vạn Hạnh
Ban Thư Viện Học
Được
chứng kiến tận mát tất cả các hoat động kể trên, hoàn toàn phù hợp với đường lối
giáo dục của Viện Đại Hoc Vạn Hạnh, Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện
Đại Học Vạn Hạnh, đã quyết định thành lập cho Phân Khoa Văn Học và Khoa Học
Nhân Văn, lúc đó Khoa Trưởng là Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, một Ban Thư Viện Học
(BTVH), và cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên cho BTVH.
BTVH
đã khai giảng khóa học đàu tiên vào đàu năm học 1974-1975 với 70 sinh viên, và
với các giáo trình và giảng viên như sau:[5]
Học Kỳ 1:
·
Ông Lâm Vĩnh
Thế: Tổng Kê và Phân Loại I
·
Cô Phạm Thị Lệ-Hương:
Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện
·
Ông Lê Ngọc
Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu
·
Ông Tống Văn
Diệu: Lịch sử Thư Viện
Học
Kỳ 2:
·
Ông Lâm Vĩnh
Thế: Tổng Kê và Phân Loại II
·
Cô Phạm Thị Lệ-Hương:
Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn
·
Ông Lê Ngọc
Oánh: Tham Khảo Tổng Quát
·
Ông Nguyễn Ứng
Long: Anh Ngữ I
Học Kỳ 2 khởi
sự vào khoảng tháng 3-1975 đã không bao giờ được kết thúc vì biến cố bi thảm của
ngày 30-4-1975 chấm dứt sự hiện hữu của VNCH.
BTVH của Đại Học Vạn Hạnh đã bị chết non, chưa đào tạo được một vị Cử
Nhân Thư Viện Học nào cho Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cả.
Thời
Gian Sống Tại Canada
Tại
Montréal
Khi mới đến Canada, vì là do sự bảo lãnh của Anh Tư tôi [6] nên gia đình tôi phải sống tại
Montréal, tỉnh bang Québec, và các con tôi phải học tiếng Pháp, một điều mà tôi
không thích vì không tốt cho tương lai của chúng.
Vì sự kỳ thị đối với người Anh-Mỹ và đối với tiếng Anh của
người dân và chính phủ Québecois, tôi đã không thể tìm được việc làm chuyên môn
với bằng MLS của tôi từ một đại học Mỹ, và tôi phải chấp nhận làm một công việc
lao động khưân vác trong một kho hàng, làm ca đêm, từ 4 giờ chiều đến 12 giờ
khuya. Nhiều đêm, khi đã xong việc, đứng
đón xe búy trong cái lanh kinh người của mùa Đong Canada, tôi đã không cầm được
nước mát vì quá tủi thân: đang từ đia vị cua một giáo sư đại hoc tại Việt Nam
tôi đã rơi xuống nấc thang cuối cùng trong xã hôi Canada là làm một anh cu-li
khuân vác.
Việc làm lao động khuân vác này kéo dài gần 6 tháng cho đến
khi tôi tìm được một công việc làm chuyên môn, chỉ là làm hợp đồng thôi
(conract job,) tại Thư Viện Trung Ương (Central Library) của Bộ Canh Nông
(Agriculture Canda) tai thủ đô Ottawa.
Tại
Ottawa
Công việc làm tại đây là chuyển đổi các thẻ thư mục đánh
mày (typed catalog cards) trên các thẻ thư mục bằng giấy cứng khổ 3 x 5 inch chứa
trong các tủ thư mục bằng gỗ (wooden card catalogs) sang dạng ký lục thư tịch
điện tử (electronic bibliographic records) bằng một máy vi tính cở trung
(mini-computer) và sử dụng một phần mềm (software) có tên là UTLAS (University
of Toronto Library Automation Systm).
Công việc chuyển đổi này là thực hiện cho bộ sưu tập báo chí rất lớn, có
đến 30.000 nhan đề, cũa Thư Viện. Bộ Canh
Nông đã lên kế hoạch thực hiện dự án công tác này trong 5 năm,
1980-1985. Khi tôi nhân việc thì mới là bắt đàu của năm
thứ ba nên tôi rất yên tâm làm việc vì cứ nghĩ là còn có thể ký hợp đồng thêm 2
năm nữa. Nhưng quả thật đúng như Ông Bà
mình đã thường dạy con cháu là: “Chuyện đời khó nói lắm. Ai mà biết trước được chuyện tương lai.” Mới làm được độ 6 tháng thì tôi được thông
báo là Bộ Canh Nông đã bị cắt ngân sách và dự án công tác này phải chấm dứt vào
cuối tài khóa liên bang 1982-1983, túc là vào ngày 31-3-1983.
Sau đó, tôi đã phải trải qua hơn một năm trời bị thất
nghiệp lhoặc chỉ làm toàn những công việc hợp đồng lặt vặt, ngắn hạn, 4 tháng tại
Bộ Sắc Tộc và Bắc Vụ (Department of Indian and Northern Affairs), 2 tháng tại Bộ
Tư Pháp (Department of the Solicitor General) cho đến tháng 8-1984 khi tôi tìm
được một việc làm thật tối, hoàn toàn ổn định (stable), thường trực (permanent,
toàn thời gian (full-time), và lương cao (high-salaried) tại một cơ quan của
chính phủ liên bang Canada, chuyên về thông tin an toàn lao động, tại thành phố
Hamilton, tỉnh bang Ontario, có tên là Canadian Centre for Occupational Health
and Safety (CCOHS) = Centre canadien d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST).
Tại
Hamilton
Tôi đã làm việc liên tục tại CCOHS trong hơn 8 năm
(1984-1992) và trải qua các chức vụ như sau:
·
Inventory
Cataloguer: 1984-1985
·
Manager,
Online Catalogue: 1985-1986
·
Manager,
Database Development Department: 1986-1988
·
Manager,
Database and Information Resource Development Department: 1988-1992
Tháng
9-1992, tôi bị cho nghỉ việc, trở thành nạn nhân của cuộc đấu đá chính trị giữa
2 chính dảng lớn của Canada là Đảng Tự Do (Liberal Party = Parti libéral) và Đảng
Bảo Thủ (Conserative Party = Parti conservateur). CCOHS được thành lập từ năm 1979 khi Đảng Tư
Do, có chủ trương ủng hộ giới công nhân, đang câm quyền. Bây giờ là nam 1992, Đảng Bảo Thủ, có chủ
trương ủng hộ giới chủ nhân, đã chiếm được chính quyến. CCHS đã trỏ thành một cái gai trong mắt của Đảng
Bảo Thủ và ho quyết tâm phá hoai CCOHS.
Việc họ làm trước tiên là cách chức ngay lập Tức Tiến Sĩ Gordon Atherley,
President của CCOHS, một chuyên gia về an toàn lao động hàng đàu của cả thế giới. Ké tiếp họ làm áp lực khiến cho tất cả 4 vị
Giám Đốc (Directors) phải tù chức và rời khỏi CCOHS. Và, sau cùng, ho cho nghĩ viêc hết tát cả 16
vị Trưởng Ban (Managers). Tôi bị cho nghỉ
việc vào ngày 30-9-1992 cùng một lúc với 3 Managers khác.
Sau khi
mất việc tại CCOHS, tôi đã trải qua 5 năm trời lận đận, làm toàn những công việc
hợp đồng, khi thì 6 thàng, lúc thì 3 tháng, thậm chí có một lần chỉ có 1 tháng,
thay cho một nhân viên thư viện bị thương nhẹ trong một tai nạn xe cộ, phải nằm
bệnh viện 4 tuần lễ. Việc này chỉ chấm dứt
khi tôi nhận được một việc làm ổn đinh và thường trực tai Thư Viện của Trường Đại
Học Saskatchewan, tại thành phố Saskatoon, trong vùng Đại Bình Nguyên của Canda
(Canada’s Grande Prairie), với chức vụ Trưởng Ban Biên Mục (Head, Cataloguing
Department), và được xếp vào bậc Librarian 3, với thời gian thử thách
(probation period) là 3 năm, 1997-2000.
Tại
Saskatoon
Tôi bắt đầu làm công việc mới này vào ngày 2-9-1997. Lúc đó, Ban Biên Mục gồm có tất cả là 22 nhân
viên như sau:
·
3
quản thủ thư viện – biên mục viên (Librarian-cataloguer), cấp bậc Librarin 4 (cấp
cao nhứt của Librarian), lm việc toàn thời gian (full-time)
·
1
Librarian-Cataloguer, cấp bậc Librarian 3, làm bán thời gian (part-time)
·
18
nhân viên thư viện trung cấp (Library Assistant = LA) gồm:
o
4 Tổ
Trưởng (Team Leader), cấp bậc LA-5 (cấp cao nhứt của các LA)
o
14
nhân viên biên mục viên sao chụp (copy cataloguer), cấp bậc LA-4 và LA-3
Phần lớn
các nhân viên trung cấp đều không được đao tạo chính quy, họ là những người nghề
dạy nghề, sống lâu lên lão làng. Họ
nắm được thật vững, công việc, biết rất rõ phải làm ra sao, nhưng hoàn toàn không biết tại sao phải làm như vậy.
Huấn Luyện Nhân Viên
Sau khi
nắm rõ quá trình đào tạo của nhân viên, tôi đã soạn thảo một chương trình huấn
luyện về Biên Mục trong 4 ngày, trình lên cho Ban Điều Hành Thư Viện (Library
Management Committee = LMC) cứu xét. LMC
đã thảo luân rất kỷ lưởng và chấp thuận cho thực hiện. Chương trình gồm các chi tiết như sau:[7]
·
. Ngày thứ nhứt (27-4-1998):
o
Phần Một: Các
Nguyên Tắc Về Biên Mục
§
Các chức năng
của Thư Mục
·
Các mục tiêu của
Thư mục: Giúp tìm tài liệu và Giúp tập hợp tài liệu
·
Tác động của
các đổi mới về công nghệ đối với Thư mục
·
Phát triển của
Thư mục: từ thẻ đến Thư mục trực tuyến trên Web
§
Tính đồng nhất
của các Điểm Truy Cập
·
Các mối quan hệ
về thư tịch
·
Lý do: Chức
năng tập hợp tài liệu của Thư mục
·
Thực hiện: Kiểm
Soát Tiêu Đề Chuẩn
§
Cơ cấu truy cập
theo chủ đề
·
Tính hai mặt của
truy cập theo chủ đề
·
Truy cập theo
đường thẳng: Số phân loại
·
Truy cập đa
chiều: Tiêu đề chủ đề
·
Tiềm năng tăng
cường truy cập theo chủ đề: Bảng Mục Lục của sách
o
Phần Hai: Tầm
quan trọng của Mô tả
§
Các Nguyên tắc
về Mô tả
·
Tài liệu đang
nắm trong tay
·
Các nguồn
thông tin
·
Tiêu chuẩn quốc
tế về mô tả ISBD (International Standard Bibliographic Description)
§
Tổ chức việc
mô tả
·
Các vùng mô tả
·
Thứ tự mô tả
·
Mô tả trực tuyến:
Khổ mẫu MARC
§
Thứ tự quan trọng
của các đơn vị mô tả
·
Nhan đề
·
Tùng thư
·
Ấn bản
·
Năm xuất bản
§
Tầm quan trọng
của ghi chú
·
Lý do: Tại sao
và khi nào làm ghi chú
·
Cơ cấu của ghi
chú: Cách làm và thứ tự
o
Phần Ba: Các
điểm truy cập
§
Điểm truy cập
chính và phụ
·
Tác giả hay
Nhan đề là Điểm truy cập chính
·
Điểm truy cập
chính trong môi trường trực tuyến
·
Các điểm truy
cập phụ trong chức năng Tìm tài liệu và Tập hợp tài liệu
§
Các điểm truy
cập theo tên
·
Tên cá nhân:
Tên tiếng Anh và Tên các ngôn ngữ khác
·
Tên tập thể: Hội
đoàn, Chính phủ, Hội nghị
§
Các điểm truy
cập theo nhan đề
·
Các hình thức
khác nhau của nhan đề
·
Nhan đề đồng
nhất
§
Các điểm truy
cập theo tùng thư
·
Tùng thư được
ghi
·
Tùng thư không
được ghi
·
Tùng thư ghi một
cách khác
§
Các điểm truy
cập theo chủ đề
·
Các số phân loại
·
Các tiêu đề chủ
đề
§
Các điểm truy
cập khác
·
Các số tiêu
chuẩn (ISBN, ISSN)
·
Các loại số
khác
§
Kiểm Soát Tiêu
Đề Chuẩn
·
Các hệ thống:
Tên và Chủ Đề
·
Các thủ tục:
Thủ công và trực tuyến
·
Hệ thống sẽ
trang bị: LTI (Library Technologies, Inc.)
·
Ngày thứ nhì
(28-4-1998)
o
Phần Bốn: Số
phân loại và Tiêu đề chủ đề
§
Hệ thống Phân
Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
·
Lịch sử
·
Cấu trúc
·
Các bảng phân
loại
·
Các bảng cập
nhật
·
Chính sách của
Thư viện Đại Học Saskatchewan về Văn Học và Luật
·
Ngày thứ ba
(29-4-1998)
§
Tiêu đề chủ đề
của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
·
Cơ cấu
·
Các tiểu phân
mục
·
Các bảng cập
nhật
·
Kiểm soát tiêu
đề chuẩn
§
Hệ thống phân
loại Dewey [5]
·
Lịch sử
·
Cơ cấu
·
Phân mục 370:
Giáo Dục
·
Ngày thứ tư
(30-4-1998)
o
Phần Năm: Các
dụng cụ làm việc
§
Cataloger’s
Desktop
·
Khổ mẫu USMARC
·
Cẩm nang Biên
mục chủ đề (Subject Cataloguing Manual)
·
Giải thích các
Quy tắc Biên mục của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (LC Rule Interpretations)
§
Classification
Plus
·
Các Bảng Phân
Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
·
Tiêu đề chủ đề
của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
§
Các dụng cụ có
trên Internet
·
WebCATS
·
TPOT
·
Cẩm nang biên
mục các tài liệu ngoại quốc
·
Cổng LC Z39-50
Vào
cuối Khóa huấn luyện, các học viên đã được yêu cầu điền vào bảng đánh giá khóa
học (evaluation form). Đa số học viên đã
đánh giá khóa học từ Rất Tốt đến Xuất Sắc (from Very Good to Excellent).
Thăng Cấp Tại Đại Học Saskatchewan
Sau
khóa hu61n luyện vài tuần lễ, LMC đã thăng cấp cho tôi l6n làm Trưởng Khối, Dịch
Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division), trông coi luôn cả 2 Ban là Ban
Biên Mục mà tôi đang làm Trưởng Ban, và Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department,
cũng gồm 22 nhân viên), chịu trách nhiệm về việc mua sắm tài liệu sách báo cho
Thư Viện, cũng như trao đổi tài liệu sách báo với các thư viện đại học bạn. Và với chức vụ mới này, tôi cũng đương nhien
trở thành một thành viên thường trực của LMC luôn.
Ba
năm sau, sau khi tôi đã đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn thăng cấp đề ra trong
tài liệu University Library Standards for Promotion and Permanent Status (Những
Tiêu Chuẩn của Thư Viện Đại Học về Thăng Cấp và Biên Chế Thường Trưc), tôi được
Trường thăng cấp lên Librran 4 sau một tiến trình hết sức gay go và cay đắng vì
gặp sự chống đối gay gắt từ một nhóm Librarian 4 trong thư viên do sụ ganh tị
nhỏ nhen của họ. Tiến Sĩ Michael
Atkinson, Phó Viện Trưởn Đặc Trách Học Vụ (Vice-President for Academic Affairs)
rất bực mình trước thái độ rất là, như chính ông đã phát biểu, unprofessional,
và, vì vậy, ông đã đơn phương quyết định thăng cấp cho tôi lên Librarian 4 mà
không thèm đếm xỉa gì đến sự phản đối hết sức vô lý đó (đúng là một cát
như trời giáng cho nhòm Librarin 4 nhỏ nhen đó) như ghi rõ trong văn
thư hính thức sau đây:[8]
The documentation provided
supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across
Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date. Our recommendation to the Board of Governors
is a vote of confidence in you as a senior member of the university community
and in your continuing contribution to the academic life and vitality of the
University of Saskatchewan.”
(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thay mặt Ủy Ban Duyệt Xét của Đại
Học, tôi vui mừng báo tin cho ông là Ủy Ban đã khuyến cáo với Hội Đồng Quản Trị
của Đại Học để ông được thăng cấp lên Quản Thủ Thư Viện Bậc IV kể từ ngày 1
Tháng 7 năm 2002. Xin chúc mừng
ông! Ông sẽ nhận được văn thư của Hội Đồng
Quản Trị vào cuối tháng này. Hồ sơ đã được
đệ trình để hỗ trợ cho trường hợp của ông đã chứng minh rằng các đồng nghiệp của
ông tại trường cũng như từ khắp Canada, và cà quốc tế, đã công nhận những thành
quả mà ông đã đạt được cho đến ngày hôm nay.
Khuyến cáo của chúng tôi với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học là một lá phiếu
xác nhận sự tin tưởng của chúng tôi đối với ông với tư cách là một thành viên
cao cấp của cộng đồng đại học, và đối với sự tiếp tục đóng góp của ông cho sự
nghiệp và sức sống của Đại Học Saskatchewan.”)
Nghỉ Phép Đi Làm Nghiên Cứu
(Sabbatical Leave)
Giống như tấ cả các đại học tại Bắc Mỹ,
Đại Học Saskatchewan cũng có quy chế cho phép các giáo sư được nghỉ phép dài hạn
để đi làm công tác nghiên cưu như sau: 1) Nghỉ 6 tháng và được hưởng 100% lương
sau khi đã làm việc liên tục được 3 năm; và 2) Nghỉ 1 năm và được hưởng 80% lương
sau khi đã làm việc liên tục được 6 năm.
Ngoài ra, đại Học còn có thêm một quy chế đặc biệt nữa là xếp các quản
thủ thư viện vào chung một nghiệp đoàn với các giáo sư, và, nhờ vậy, tôi cũng được
nghỉ pháp Sabbatical Leave trọn 1 năm, từ ngày 1-7-2003 cho đến ngày
30-6-2004. Trong thời gian nghỉ phép 1
năm đó, tôi đã hoàn tất được 2 dự án nghiên cứu, và viết thành 2 bài báo sau
đây:
·
Vinh-The
Lam, “Quality control issues in outsourcing cataloging
·
in US
and Canadian academic libraries,”
Cataloging &
classification
quarterly, tập 40, số 1 (2005),
tr. 101-122.
·
Vinh-The
Lam and D. Friesen, “A Web-based database of CIA
declassified documents on the Vietnam War,” Online, tập
28,
số 4 (2004), tr. 31-35.
Nghỉ
Hưu
Ngày
1-7-2004, tôi trở về Thư Viện của Trường Đại Học Saskatchewan, và thôi không giữ
các chức vụ chỉ huy nữa như đã thỏa thuận với ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện,
trước khi đi nghỉ phép, và chỉ còn làm công tac chuyên môn thôi, với chức vụ
Biên Muc Viên Nguyên Thủy Cao Cấp (Senior Original Cataloguer) cho đến lúc
chính thức nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006.
Thay Lời
Kết:
Cuộc
hành trình 85 năm đã đưa tôi đi qua khá nhiều những mốc thời gian rất quan trọng
trong cuộc đời tôi. Tôi đã trải qua 17
năm trong việc học hành thi cử, 15 năm trong nước và 2 năm tại hải ngoại (Hoa Kỳ),
cả 2 nơi đều đạt được kết quà hết sức tốt đẹp.
Tôi đã làm tròn nhiệm vụ trong việc dạy học, ở cả 2 cấp Trung Học và Đại
Học tại Việt Nam cũng như tại Canada.
Tôi đã điều hành và phát triển rất tốt một hội đoàn văn hóa tư trong nước,
Hội Thư Viện Việt Nam. Tôi đã thành công
thiết lập được Ban Thư Viện Học đầu tiên ở cấp đại học cho VNCH. Và, sau cùng, khi đã định cư tại quê hương mới,
Canada, tôi cũng đã tạo được một số bước đáng kể trong việc phát triển ngành
Thư Viện Học cho Canada nói riêng và cho cả Bắc Mỹ nói chung.
GHI
CHÚ:
1.
Lâm
Vĩnh-Thế. Môt ngã rẽ bất ngờ và
may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn
văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/mot-nga-re-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-the/
2.
Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ
thư viện Canada gốc Việt. Westminster,
CA: Nhân Ảnh, 2021, tr. 41-45.
3.
Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 52.
4.
Lê Nguyễn. Lương bổng, phụ cấp của quân nhân công
chức miền Nam trước tháng 4.1975, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại
địa chỉ Internet sau đây: Lương Bổng, Phụ Cấp của Quân Nhân – Công Chức miền Nam trước
tháng 4.1975 – Lê Nguyễn – dòng sông cũ
5.
Lâm
Vĩnh-Thế. Tròn nhie5m vụ …,
sđd, tr. 62
6.
Anh
Tư tôi tên là Lâm Vĩnh-Tế, sinh năm 1939, du học Canada với một học bồng của Kế
HOạch Colombo (Colombo Plan) từ năm 1960, tốt nghiệp Tiến Sĩ Hóa Lý (PhD in
Physical Chemistry) tại Đai Học Montréal năm 1967 và đã dạy học tại đó cho đến
khi mãn phần vào năm 2000.
7.
Lâm
Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ…,
sdd, tr. 130-133.
8.
Lâm
Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ…,
sdd, tr. 139.