marque

*** Chào mừng bạn đang ghé thăm trang web Tuyển Tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế *** Bài mới nhất

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2026

Hoài Niệm Một Thời Học Đệ Nhị Cấp Tại Trường Petrus Ký

 


 

 

Lâm Vĩnh-Thế

Cưu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Ký, 1953-1960

 

 

 

            Tôi đã có may mắn lớn trong đời hoc sinh là được theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trun Học tại ngôi trường lớn nhứt và danh tiếng nhứt của Miền Nam là Trương Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, mà đồng bào Miền Nam thường chỉ gọi tắt là Trường Ptus Ký.  Bài viêt này là một cố gắng ghi lại những kỷ niệm vui buồn trong 3 năm (1957-1960) của bậc Đệ Nhị Cấp mà thôi.

 

Lớp Đệ Tam A (Niên Khóa 1957-1958)

 

            Mùa Thu năm 1957, sau khi đậu xong bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp với Hạng Bình Thứ, tôi được Trường Petrus Ký cho lên học Lớp Đệ Tam A (ban Vạn Vật)

 

 

 

Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp – Khóa Ngày 6-6-1957 – Hạng BÌNH THỨ

 

Các Giáo Sư

           

Lớp Đệ Tam A, niên khóa 1957-1958, bọn học sinh chúng tôi đã được học với các Thầy sau đây:

 

·         Thầy Bùi Trọng Chương: môn Quốc Văn

·         Thầy Đinh Xuân Thọ: môn Anh Văn

·         Thầy Trương Văn Cao: môn Pháp Văn

·         Thầy Trần Văn Binh: môn Toán

·         Thầy Nguyễn Tuế: hai môn Vật Lý và Hóa Học

·         Thầy Trần Huệ: môn Vạn Vật

·         Thầy Nguyễn Văn Gần: môn Sử Địa

 

Thầy Bùi Trọng Chương

 



Hình Thầy Bùi Trọng Chương chụp khoảng năm 2000

 

            Thầy Bùi Trọng Chương cùng tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Sư Phạm Hà Nội và cùng được bổ về dạy Trường Petrus Ký cùng một lượt với các Thầy Khoa, Thầy Khôi và Thầy Thọ.  Tôi được may mắn học với Thầy môn Quốc Văn liên tiếp bốn năm Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ, Ðệ Tam và Ðệ Nhị.  Thầy Chương người tầm thước, hơi ốm, mặt xương, và có thể nói là một trong những vị Giáo sư khả kính nhất, và có tác phong sư phạm nhất của Trường Petrus Ký trong suốt thời gian bảy năm tôi theo học tại Trường.  Thầy rất nghiêm, nhưng không khắc khe, Thầy lại dạy học rất tận tâm, soạn bài rất kỹ, chấm bài rất đều, và cho điểm rất chừng mực.  Khi dạy lớp đi thi, như Ðệ Tứ (thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp) hay Ðệ Nhị (thi Tú Tài I), Thầy cố gắng theo sát và dạy thật đầy đủ chương trình giáo khoa, nhờ vậy, khi đi thi có thể nói là bọn tôi hoàn toàn không bị lúng túng trước các đề thi.  Thầy Chương cũng nêu gương hiếu học cho bọn tôi.  Vừa dạy học Thầy vừa học thêm tại Ðại Học Luật Khoa và sau cùng cũng lấy xong bằng Cử Nhân Luật như các Thầy Sửu và Thầy Khôi.  Về sau khi tôi đã tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon, tôi có dịp làm việc chung với Thầy vài lần tại các hội đồng thi Tú Tài.  Khi đó Thầy thường đãm nhận chức vụ Chánh Chủ Khảo hoặc Phó Chủ Khảo các hội đồng thi nầy và tôi lại được học hỏi về cách làm việc công bình và quang minh chính đại của Thầy.  Trước khi rời Việt Nam năm 1981 tôi có đến chào Thầy lần cuối tại  nhà Thầy trong khu Bàn Cờ.  Về sau Thầy cùng gia đình sang định cư tại tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ.  Một lần nữa Thầy lại làm chúng tôi ngạc nhiên và vô cùng khâm phục: Thầy trở lại trường Ðại Học và lấy xong văn bằng Bachelor of Arts.  Gần đây, mổi khi Thầy có dịp về Việt Nam thì anh em học sinh lớp Ðệ Tứ F của Petrus Ký lại tổ chức họp mặt với Thầy.  Thầy mất năm 2013 tại Nam California, Hoa Kỳ.  Sau khi Thầy mất, một nhóm học trò cũ ở Trường Trung Học Petrus Ký của Thầy đã thành lập một Quỹ Học Bổng mang tên Thầy nhằm mục đích cấp phát học bổng cho học sinh giỏi và có gia cảnh khó khăn của Trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Lê Hồng Phong (tức Trường Trung Học Petrus Ký trước năm 1975, là ngôi trường mà Thầy đã gắn bó trọn cuộc đời 40 năm dạy học của mình).  Có thể vào xem chi tiết về Quỹ Học Bổng Thầy Bùi Trọng Chương tại địa chỉ Internet sau đây:

 

http://hoc-bong-btc.blogspot.ca/p/trang-chu_25.html

 

Thầy Đinh Xuân Thọ

 

 

Hình Thầy Đinh Xuân Thọ chụp năm 1953

 

            Thầy Ðinh Xuân Thọ dạy Anh Văn cho bọn tôi trong hai năm Ðệ Lục và Ðệ Ngũ (về sau lên Ðệ Nhị Cấp, bọn tôi còn được học thêm với Thầy một năm Ðệ Tam nữa).  Thầy Thọ tướng người tầm thước, trắng trẻo, giống như lai Pháp.  Thầy rất hiền, và có một đặc điểm mà tôi không bao giờ quên được là mổi khi Thầy mắt cở thì hai vành tai của Thầy đỏ lên liền.  Thầy dạy học rất tận tụy với học sinh, Thầy dạy bọn tôi quyển Anglais Vivant, 6e Bleu của Carpentier Fialip là sách giáo khoa Anh văn của thời đó, Thầy bắt bọn tôi tập đọc rất nhiều, Thầy lại chú trọng rất nhiều về văn phạm, nhờ vậy mà bọn tôi có được một căn bản về văn phạm rất vững chắc.  Sau khi rời Trường Petrus Ký tôi không có dịp nào gặp lại Thầy.  Tháng 8 năm 1984, trước khi rời Ottawa, đi nhận nhiệm sở mới tại Hamilton, Ontario, tôi có dịp gặp được người con trai của Thầy là Bác sĩ Ðinh Xuân Anh Tuấn và được Tuấn cho hay Thầy đã mất vì bịnh tim tại Pháp mấy năm trước đó.

 

Thầy Trương Văn Cao

 

 

Hình Thày Trương Van Cao chụp khoàng năm 1958

            Thầy Trương Văn Cao dạy môn Pháp Văn.  Thầy tác người hơi thấp, tóc chải xuôi, đeo kính cận khá nặng, đi dạy học xách một cái cạc-táp khá lớn.  Khác hẳn với tác người, Thầy Cao là người rất nhanh nhẹn, đi cũng nhanh, nói cũng nhanh, đọc bài cũng nhanh.  Mấy tháng đầu, bọn tôi chạy theo Thầy cũng mệt dữ, nhất là Thầy lại đọc tiếng Pháp có bỏ dấu, theo kiểu các Thày Dòng trường Taberd.  Nghe nói trước kia Thầy cũng có đi tu dòng các Su huynh một thời gian, nhưng về sau, vì thiếu ơn gọi, Thầy đã ra khỏi nhà dòng.  Giờ học nào cũng vậy, khi bắt đầu bài mới, Thầy bước xuống khỏi cái bục kê bàn Giáo sư, tiến đến trước bảng đen, mở nút tay áo, xăng tay áo sơ mi lên, cầm viên phấn lên, và cứ thế Thầy viết ào ào (viết cũng nhanh luôn nữa mà), tụi tôi chép theo muốn khùng luôn.  Còn cái chuyện trả bài thì ôi thôi còn "ghê rợn" hơn nhiều.  Tụi tôi sợ nhất là cái màn  trả bài "récitation", tức là trả bài thuộc lòng, mà toàn là các bài thơ tiếng Pháp không mới chết chớ.  Vì sợ cái màn trả bài ghê rợn nầy, bọn tôi đứa nào cũng rán lo học cho thuộc lòng như cháo các bài "récitation" nầy.  Kết quả thấy rõ là cuối năm tên nào tên nấy đều thuộc thơ Pháp quá trời.  Phương pháp của Thầy Cao quả thật có hiệu quả vô cùng đáng kể. 

 

Thầy Trần Văn Binh

 

            Thầy Trần Văn Binh là Giáo sư môn Toán và có lẻ là Giáo sư lớn tuổi nhứt trong số Giáo sư dạy lớp Ðệ Tam niên khóa đó.  Thầy Binh có nhiều nét rất độc đáo.  Trước hết, Thầy là một con người sống rất giản dị.  Nếu gặp Thầy ở ngoài đường người ta khó có thể đoán được Thầy là một Giáo sư trung học.  Thầy luôn luôn mặc một chiếc quần ka ki củ màu vàng lợt, áo sơ mi tay ngắn trắng nhưng cũng rất củ, đã ngả sang màu cháo lòng, Thầy lại thắt một sợi dây nịch da cũng củ sì, mà lại quá dài, ở đoạn gần cuối, Thầy dùng một sợi dây thung buộc nó lại cho sát vào lưng quần.  Thầy lại có nước da khá đen, răng Thầy bị hư khá nhiều và mất mấy chiếc, Thầy lại hớt tóc kiểu bàn chải.  Tất cả cái bề ngoài đó dễ làm cho người ta lầm Thầy là một người thợ.  Trên thực tế, trước khi về Trường Petrus Ký dạy Toán cho các lớp Ðệ Nhị Cấp, Thầy Binh là một công chức cao cấp, đã từng làm Phó Tỉnh Trưởng.  Sau nầy, Thầy rời Trường Petrus Ký về làm Phó Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nơi đào tạo các công chức cao cấp của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa.  Không những giản dị, Thầy còn là một người rất hiền lành, bọn tôi chưa bao giờ thấy Thầy nổi giận hay nói lớn tiếng với học sinh.  Thầy rất giỏi Toán, là một trong số rất ít người đã đậu Cử Nhân Giáo Khoa Toán trong thập niên 50 tại Ðại Học Khoa Học Saigon.  Nhưng phải nhận là Thầy dạy Toán không có gì hấp dẫn.  Cũng may là đối với Ban A của bọn tôi, môn Toán không phải là môn chánh.  Sau nầy, bọn tôi còn học Toán với Thầy một năm nữa ở lớp Ðệ Nhứt.  Thầy Binh vẫn y chang như vậy, hoàn toàn không có gì thay đổi.

 

Thầy Nguyễn Tuế

 

            Thầy Nguyễn Tuế dạy môn Lý Hóa.  Khác hẳn Thầy Binh dạy Toán, Thầy Tuế trẻ hơn nhiều, chỉ lớn hơn bọn tôi độ chừng 5, 6 tuổi (nghe nói lúc đó Thầy còn đang học Ðại Học Khoa Học, và chỉ là giáo sư dạy giờ của Trường), người cao lớn, rất đẹp trai, đi dạy mặc quần áo rất hợp thời trang, và dạy học rất hay và hấp dẫn.  Có lẻ vì tuổi tác không chênh lệch mấy so với học trò nên Thầy phải tỏ ra rất nghiêm.  Tôi không còn nhớ gì đặc biệt về Thầy.

Thầy Trần Huệ

 

 

 

Hình Thầy Trần Huệ chụp khoảng năm 2000

 

            Thầy Trần Huệ dạy chúng tôi môn Vạn Vật.  Thầy người thấp, mặt tròn, trắng trẻo, mang kính cận, nói chuyện hay giảng bài gì cũng rất bình tĩnh, chẩm rải.  Bọn tôi có nhiều kỹ niệm vui với Thầy Huệ.  Năm Ðệ Tam, chương trình Vạn Vật là học về Ðịa Chất.  Mổi đầu giờ học đều có chú lao công của Phòng thí nghiệm mang lên một khay đựng đầy các mẫu đất đá mà Thầy Huệ đã chọn sẳn.  Thầy cho phép bọn tôi chuyền nhau xem các mẫu đất đá đó.  Lần nào cũng như lần nấy, đến cuối giờ Thầy kiểm lại thì cũng đều thiếu một vài mẫu vì bọn tôi dấu đi để phá Thầy.  Thầy chỉ cười, kêu đích danh một vài tên mà Thầy biết rõ tánh liếng khỉ, và các tên đó phải móc túi ra, đem mẫu đất đá lên trả lại Thầy, và cả lớp lại được một màn cười thoải mái, thích thú.  Thầy Huệ cũng là một mẫu người hiếu học, và rất có chí.  Nghe nói Thầy xuất thân là một Giáo Học Cấp Bổ Túc (có bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp và học 3 năm tại Trường Quốc Gia Sư Phạm Saigon), nhờ cố gắng học đã đậu được bằng Tú Tài 2, Thầy lại tiếp tục học và lấy được Cử Nhân Giáo Khoa Vạn Vật và sau đó lấy luôn bằng Cao Học về Vạn Vật tại Ðại Học Khoa Học Saigon.  Sau nầy tôi có dịp gặp lại Thầy trong thời gian du học ở Hoa Kỳ, 1971-1973, lúc đó Thầy đang học Tiến Sĩ về Giáo Dục.  Sau khi tốt nghiệp, cả hai thầy trò chúng tôi đều cùng về phục vụ tại Trường Ðại Học Sư Phạm Saigon cho đến ngày 30-4-1975.

 

Thầy Nguyễn Văn Gần

 

             Thầy Nguyễn Văn Gần là Giáo sư dạy chúng tôi môn Sử Ðịa trong hai năm Ðệ Thất và Ðệ Ngủ (về sau lên Ðệ Nhị Cấp chúng tôi còn học với Thầy thêm năm Ðệ Tam nữa).  Trong tất cả các giáo sư mà tôi đã học ở Trường Petrus Ký trong suốt 7 năm chương trình Trung học, Thầy Gần là người vui tính nhứt, và dạy học sống động nhứt với lối kể chuyện rất lôi cuốn, làm bọn tôi vô cùng say mê.  Riêng đối với cá nhân tôi, Thầy Gần đã có ảnh hưởng rất nhiều, gây sự thích thú trong tôi đối với môn học mà phần đông học sinh đều cho là khô khan, khó nuốt.  Về sau chính tôi đã theo bước Thầy và trở thành Giáo sư dạy môn Sử Ðịa.  Ngoài việc dạy anh em chúng tôi theo đúng chương trình chính quy của Bộ Giáo Dục, Thầy Gần luôn luôn kể thêm nhiều chuyện ngoại sử (kiểu như bài đọc thêm) với nhiều tình tiết hấp dẫn.  Chắc chắn anh em nào đã học Sử Ðịa với Thầy Gần trong thời gian nầy cũng còn nhớ cảnh Thầy vừa kể chuyện D'Artagnan (trong truyện Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ - Les Trois Mousquetaires của Alexandre Dumas) đánh kiếm vừa ra bộ làm tuồng rất là hấp dẫn.  Thời gian đó các anh lớn Petrus Ký đi thi Tú Tài mà gặp được Thầy hỏi vấn đáp thì coi như đậu chắc môn Sử Ðịa, vì Thầy không hề cho ai dưới điểm trung bình cả.  Tôi tin rằng tất cả anh em học sinh Petrus Ký ai cũng thương mến Thầy Gần vì tánh tình vui vẻ, hiền lành của Thầy.

 

Lớp Đệ Nhị A (Niên Khóa 1958-1959)

 

Các Giáo Sư

 

            Năm học 1958-1959, ở Lớp Đệ Nhị A, bọn học sinh chúng tôi đã được học với các Thầy Cô sau đây:

 

·         Thầy Bùi Trọng Chương: môn Quốc Văn

·         Thầy Phạm Văn Thuật: môn Anh Văn

·         Thầy Trương Văn Cao: môn Pháp Văn

·         Thầy Trần Văn Thử: môn Toán

·         Thầy Nguyễn Văn Phối: hai môn Vật Lý và Hóa Học

·         Thầy Nguyễn Gia Tường: môn Vạn Vật

·         Thầy Vũ Ký: môn Sử Ký

·         Cô Lâm Thị Dung: môn Địa Lý

 

Thầy Bùi Trọng Chương

 

            (đã trình bày bên trên)

 

Thầy Phạm Văn Thuật

 

Hình Thầy Phạm Văn Thuật chụp khoảng năm 1959

 

            Thầy Phạm Văn Thuật dạy môn Anh Văn cho lớp Ðệ Nhị A của bọn tôi năm đó.  Thầy đúng là một "English Gentleman" chánh hiệu con nai vàng, tốt nghiệp từ bên Ăng Lê về.  Thầy đi dạy bằng một chiếc xe hơi Opel mới tinh, màu hường lợt.  Vào thời đó, xe Opel thuộc vào loại xe rất "xịn", trên cơ rất xa các loại xe Pháp như Citroen, Peugeot hay Simca, chỉ thua xe Hoa Kỳ thôi, mà xe Hoa Kỳ lúc đó thì chưa có nhiều lắm.  Thầy luôn luôn trầm tĩnh và nói năng rất nhỏ nhẹ.  Ðó là lần đầu tiên bọn học sinh Petrus Ký chúng tôi được thực sự học Anh Văn với một Giáo sư tốt nghiệp từ một quốc gia nói tiếng Anh.  Thầy dạy bọn tôi quyển Anglais Vivant, Second Beige, làm tụi tôi theo muốn hụt hơi luôn.  Mổi lần Thầy dở sách ra đọc là bọn tôi theo dõi một cách say sưa, vì Thầy đọc sao mà dễ dàng như ăn cháo vậy, không phải uốn lưởi, uốn miệng gì cả.  Khi Thầy giảng bài Thầy nói tiếng Anh sao mà nó trơn tru như bọn tôi nói tiếng Việt vậy.  Tụi tôi thực sự may mắn được học Anh Văn với Thầy hai năm liên tiếp (cả năm Ðệ Nhứt luôn).  Về sau Thầy rời Trường Petrus Ký lên làm việc trên Bộ Giáo Dục, và có lúc Thầy giữ chức vụ Tổng Giám Ðốc Tổng Nha Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục. 

 

Thầy Trương Văn Cao

 

            (đã trình bày bên trên)

 

Thầy Trần Văn Thử

 

            Thầy Trần Văn Thử là Giáo sư môn Toán, không riêng của lớp Ðệ Nhị A bọn tôi mà luôn cả các lớp Ðệ Nhị B nữa.  Thầy Thử người to lớn, dềnh dàng, nhưng nói năng rất từ tốn.  Thầy dạy bọn tôi cả Hình Học lẩn Ðại số.  Trong tất cả các Giáo sư dạy Toán mà tôi đã được học trong suốt 7 năm tại Trường Petrus Ký, Thầy Thử là ngưòi mà tôi khâm phục nhứt.  Thầy dạy có phương pháp sư phạm đàng hoàng và sử dụng giờ dạy học với hiệu quả rất cao.   Mổi tuần, bọn tôi học 4 giờ Toán, 2 giờ Hình Học vào Thứ Ba, và 2 giờ Ðại Số vào Thứ Năm.  Tuần nào cũng vậy, Thầy bảo bọn tôi về đọc trước bài giáo khoa về phần sẽ học tuần sau.  Vào giờ học, Thầy tóm lược nội dung của bài giáo khoa, sau đó Thầy chỉ cho chúng tôi cách áp dụng phần giáo khoa để giải các đề toán.  Thí dụ, muốn chứng minh hai mặt phẳng song song thì có mấy cách tất cả, trong mổi cách thì cần có những yếu tố gì để có thể chứng minh được.  Sau đó Thầy đưa ra các đầu đề toán về phần đó và dựa vào các yếu tố có trong đầu đề Thầy chỉ rõ cho bọn tôi là phải dùng cách thứ mấy để chứng minh.  Phần còn lại của giờ học là thực sự giải các bài tập.  Cuối giờ, bao giờ Thầy cũng lập lại các cách chứng minh cho bọn tôi nắm thật vững.  Và cuối cùng là Thầy cho biết bọn tôi phải làm bài tập nào để nộp vào tuần sau.  Thầy áp dụng cách dạy như thế trong suốt năm học.  Mổi tuần bọn tôi phải nộp hai bài, một cho môn Hình Học và một cho môn Ðại Số.  Và tuần nào Thầy cũng chấm và trả lại đầy đủ cho bọn tôi.  Các bạn cứ thử tính xem, Thầy dạy tất cả 6 lớp Ðệ Nhị, mổi lớp độ 50 học sinh, mổi học sinh nộp hai bài, như vậy là mổi tuần Thầy chấm 600 bài tập, và chấm thật kỹ, sai một cái dấu + hay - trong bảng biện luận là Thầy cũng thấy và khoanh tròn.  Thú thật, trong suốt cuộc đời đi học và sau nầy đi dạy của tôi, tôi chưa từng thấy một Giáo sư nào vừa dạy hay, vừa tận tâm với học sinh như vậy.  Cuối năm Ðệ Nhị, bọn tôi đi thi Tú Tài Ban A, làm hai bài toán hoàn toàn không gặp một chút khó khăn nào.  Về sau, Thầy Thử có một thời gian làm Hiệu Trưởng của Trường Petrus Ký.  

                       

Thầy Nguyễn Văn Phối

 

Hình Thầy Nguyễn Văn Phối chụp khoảng năm 1959

            Thầy Nguyễn Văn Phối dạy chúng tôi môn Lý Hóa.  Hình như Thầy cũng là Giáo sư chịu trách nhiệm chung về tất cả các phòng thí nghiệm của Trường.  Thầy Phối người Bắc, tác người trung bình, tóc hớt cao và đã bắt đầu hoa râm.  Thầy nói năng, làm việc đều cỏ vẻ lụp chụp, nhưng tánh Thầy rất hiền lành, dễ dãi, ít khi thấy Thầy giận học trò.   Những giờ bọn tôi học Thầy đều diển ra tại phòng thí nghiệm.   Tôi còn nhớ hoài có một lần Thầy làm thí nghiệm chất Na-tri, không hiểu sao bị nổ, miểng kiếng văng trúng vào tay Thầy làm chảy máu nhiều, Thầy phải ôm tay chạy lên Bệnh xá để được băng bó làm bọn tôi cười quá xá (dĩ nhiên bây giờ nghĩ lại thì thấy có lổi với Thầy quá, nhưng lúc đó thì bọn tôi đâu có nghĩ như vậy).  Một điều nữa làm tôi nhớ hoài về Thầy Phối là Thầy thường dọa bọn tôi mổi lần bọn tôi học hành, làm bài lôi thôi với môn Lý Hóa của Thầy.  Mổi lần như vậy là Thầy lại nói: "Học hành như mấy anh như vầy, cuối năm đi thi mà đổ thì cứ dầm cái tay tôi đi."  Bọn tôi cứ mượn cái câu nầy của Thầy mà giởn với nhau hoài: "Tao dầm cái tay mầy bây giờ."  Dọa bọn tôi như thế nhưng thật ra Thầy rất thương bọn tôi và dạy rất tận tâm, cho làm toán và giải bài tập rất kỹ, nhờ vậy cuối năm Ðệ Nhị nầy, bọn tôi thi Tú Tài I đậu gần hết lớp.   Về sau Thầy Phối rời Trường Petrus Ký, lên làm việc trên Tổng Nha Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, với chức vụ Chủ Sự Phòng Khảo Thí.   Trong một thời gian, Thầy chính là người ký tên vào các chứng chỉ trúng tuyển các kỳ thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp và Tú Tài.

 

Thầy Nguyễn Gia Tường

 

 

 

Hình Thầy Nguyễn Gia Tường chụp khoảng năm 1959

 

            Thầy Nguyễn Gia Tường dạy chúng tôi môn Vạn Vật.  Chương trình môn Vạn Vật của lớp Ðệ Nhị là Thực Vật Học.  Thầy Tường cũng là người Bắc, lúc bấy giờ đã trọng tuổi rồi, đầu Thầy đã hói nhiều, và râu Thầy cũng đã bạc.  Ði dạy học, Thầy Tường luôn luôn đội nón cối và mặc một bộ complet may bằng hàng tussor.  Thầy là Giáo sư cơ hữu về môn Luân Lý Chức Nghiệp của Trường Sư Phạm Quốc Gia, và chỉ dạy giờ cho Trường Petrus Ký.  Cách dạy của Thầy rất đặc biệt.  Mổi đầu giờ Thầy bảo bọn tôi dở sách giáo khoa ra, kêu một đứa đứng lên đọc bài cho cả lớp nghe, thĩnh thoảng Thầy bảo ngừng lại để Thầy giảng cho rõ về đoạn đó, cứ như thế cho đến cuối giờ.  Cách Thầy bảo ngưng đọc cũng rất là đặc biệt, Thầy luôn luôn nói: "Thông thả, thông thả nào".  Lúc đầu bọn tôi đâu có hiểu, cứ tưởng là Thầy bảo đọc chậm lại, về sau mới biết là khi Thầy nói như thế tức là Thầy bảo ngừng đọc.  Dĩ nhiên, câu nói nầy cũng đi vào "ngôn ngữ" của bọn Ðệ Nhị A chúng tôi luôn.   Cứ mổi lần ra chơi, giành nhau uống nước trà nóng do Trường cung cấp ngoài hành lang thì thế nào cũng có tên la lớn lên: "Thông thả, thông thả nào".  Tôi không rõ Thầy có từng học vẻ hay không nhưng Thầy vẻ rất đẹp, bọn tôi nhiều hôm cứ mãi lo trầm trồ các hình Thầy vẻ trên bảng về các loại cây cối mà quên cả vẻ theo vào tập của mình.  Trong tất cả các vị Giáo sư lớp Ðệ Nhị A năm học đó, Thầy Tường là người đạo mạo và khả kính nhứt.

 

Thầy Vũ Ký

 

 

Hình Thầy Vũ Ký chụp khoảng năm 2000

 

           

Thầy Vũ Ký dạy chúng tôi môn Sử.  Thầy người Trung, tác người ốm, cao, da hơi ngâm đen, và đeo kính cận gọng vàng.   Tôi không còn nhớ gì nhiều về Thầy Ký, chỉ còn nhớ là tiếng Thầy rất lớn, giọng Thầy sang sảng và Thầy giảng Sử với rất nhiều nhiệt tình.  Sau nầy tôi mới biết Thầy chính thật là một Giáo sư môn Quốc Văn, và là tác giả của nhiều sách giáo khoa môn nầy, cũng như là tác giả của một số sách về phê bình văn học khá nổi tiếng.

 

Cô Lâm Thị Dung

 

 

Hình Cô Lam Thị Dung chụp khoảng năm 1960

 

            Cô Lâm Thị Dung là một trong số rất ít các vị nữ Giáo sư của Trường Petrus Ký trong khoảng thời gian nầy.  Cô dạy bọn tôi môn Sử Ðịa ở năm Ðệ Lục nầy (về sau chúng tôi lại được học với Cô một năm nữa, ở lớp Ðệ Nhị, nhưng trong năm nầy Cô chỉ dạy môn Ðịa Lý mà thôi).  Cô Dung người nhỏ thó, gương mặt trái soan, Cô cũng bới đầu như Cô Ngà, nhưng Cô còn trẻ hơn.  Về mặt dạy học, Cô Dung là thái cực đối lập với Thầy Gần của năm Ðệ Thất.  Cô rất nghiêm, và cách giảng bài của Cô lại nặng về từ chương, làm cho tất cả bọn tôi đều ngán và sợ hai giờ Sử Ðịa của Cô.  Nói cho thật công bình thì vì bọn tôi đã quen với cách dạy vui nhộn và sống động của Thầy Gần qua suốt một năm Ðệ Thất, nên bây giờ trước cách dạy rất là "chính quy" của Cô, tụi tôi không thể không có sự so sánh tương đối bất công đối với Cô.

 

Lớp Đệ Nhứt A1 (Niên Khóa 1959-1960)

 

 

Các Giáo Sư

 

            Năm học cuối cùng ờ Trường Petrus Ký, tại Lớp Đệ Nhứt A1, niên khóa 1959-1960, bộn học sinh chúng tôi đã được học với các Thây sau đây:

 

·         Thầy Pham Mạnh Cương: môn Triết Học

·         Thầy Phạm Văn Thuật: môn Anh Văn

·         Thầy Huỳnh Văn Hai: môn Pháp Văn

·         Thầy Trần Văn Binh: môn Toán

·         Thầy Cao Thu Hiền: hai môn Vật Lý và Hóa Học

·         Thầy Nguyễn Huy Hùng: môn Vạn Vật

·         Thầy Trần Văn Quế: môn Sử Ký

·         Thầy Bùi Đình Tấn: môn Địa Lý

 

Thầy Phạm Mạnh Cương

 

 

Ình Thầy Mạnh Cương khong rõ năm chụp

 

           

Thầy Phạm Mạnh Cương dạy chúng tôi môn Triết Học.  Thầy người Trung, tác người hơi thấp, nhỏ con, hơi ốm.  Thầy rất hiền, nói năng nhỏ nhẹ.  Môn Triết là một môn học khó, nhưng Thầy cố gắng giảng cho thật dễ hiểu.  Tuy nhiên bọn tôi vẫn không lấy gì làm thích thú môn học quá trừu tượng nầy.  Mặc dù có sách giáo khoa của Linh Mục Cao Văn Luận, Thầy vẫn chịu khó soạn bài và đọc cho bọn tôi chép.  Chỉ tiếc một điều là Thầy không cho làm luận nhiều nên năm đó đi thi bọn tôi tương đối gặp khó khăn với đề luận Triết.  Thầy Cương lúc đó cũng đã là một nhạc sĩ nổi tiếng rồi, về sau Thầy còn nổi tiếng nhiều hơn.

 

Thầy Phạm Văn Thuật

 

            (đã trình bày bên trên)

 

Thầy Huỳnh Văn Hai

 

            Thầy Huỳnh Văn Hai dạy chúng tôi môn Pháp Văn.  Lúc dạy bọn tôi Thầy đã về hưu từ lâu rồi, nhưng Thầy vẫn còn đi dạy giờ thêm.  Ðầu Thầy bạc trắng, nhưng Thầy vẫn còn rất khoẻ, tiếng nói vẫn còn rỗn rãng.  So với Thầy Cao ở lớp Ðệ Nhị thì Thầy Hai dạy Pháp Văn vui hơn nhiều.  Trong thời Ðệ Nhứt Cộng Hòa, Thầy Hai đã từng là Dân Biểu của tỉnh Gò Công.  Về sau, tôi còn được học với Thầy Hai thêm mấy năm ở Ðại Học Sư Phạm Saigon.  Thầy phụ trách dẫn sinh viên Ban Sử Ðịa bọn tôi đi dạy tập sự ở các trường Trung Học Ðệ Nhị Cấp tại Saigon.

 

Thầy Trần Văn Binh

 

            (đã trình bày bên trên)

 

Thầy Cao Thu Hiền

 

            Thầy Cao Thu Hiền phụ trách môn Lý Hóa cho lớp Ðệ Nhứt A1.  Thầy người Nam, ốm, cao, mang kính cận khá nặng.  Thầy chỉ lớn hơn bọn tôi chừng 5, 6 tuổi gì đó thôi, và vừa mới đậu xong Cử Nhân Giáo Khoa Lý Hóa.  Trong chương trình lớp Ðệ Nhứt Ban A, môn Lý Hóa rất nặng, nhất là phần Vật Lý, với hai quyển sách giáo khoa dầy cộm về Ðộng Lực Học.  Chính vì thế mà Thầy Hiền phải tập trung gần như trọn năm học để dạy cho xong phần Vật Lý, phần Hóa Học gần như chỉ lướt qua thôi.  Như vậy mà vẫn không có nhiều giờ để làm bài tập Vật Lý.  (Chính vì vậy, tôi và một số bạn thân đã quyết định đóng tiền học thêm lớp đêm của Giáo sư Nguyễn Xuân Nghiên tại Trường Trung Học Tư Thục Hưng Ðạo vì được biết Giáo sư Nghiên hoàn toàn không dạy phần giáo khoa, chỉ giải bài tập mà thôi).  Thầy Hiền quả đúng với tên gọi, Thầy rất hiền lành và dạỵ bọn tôi rất tận tâm.

 

Thầy Nguyễn Huy Hùng

 

            Thầy Nguyễn Huy Hùng là Giáo sư môn Vạn Vật.  Thầy người Bắc, ốm, cao, trắng trẻo, trông rất là thư sinh.  Mà thật vậy, năm đó Thầy đang là sinh viên năm thứ 5 của Ðại Học Y Khoa Saigon.  Chương trình Vạn Vật của lớp Ðệ Nhứt là học về cơ thể và sinh lý của con người.  Với kiến thức Y Khoa, Thầy Hùng đã dạy môn Vạn Vật nầy rất hay.  Không những dạy hết trọn chương trình giáo khoa, Thầy còn giải cho bọn tôi một số đề mang tính tổng hợp rất hay.  Không rõ về phần các bạn khác ra sao, riêng cá nhân tôi năm đó đậu Tú Tài 2 là nhờ môn Vạn Vật học với Thầy Hùng.  Tôi không bao giờ quên được lần gặp gỡ cuối cùng giữa tôi và Thầy Hùng.  Buổi chiều hôm đó, vào một ngày Thứ Sáu, độ một tuần hay 10 ngày gì đó sau kỳ thi viết Tú Tài 2, tôi tình cờ có việc đi ngang Trường Petrus Ký thì gặp Thầy Hùng vừa trong Trường đạp xe ra (Thầy vẫn còn đi xe đạp).  Gặp tôi Thầy mừng lắm, ngoắc tôi lại cho hay là tôi đã đậu phần thi viết rồi, và bảo tôi về lo học ôn bài để chuẫn bị vào thi vấn đáp vào sáng Thứ Hai tới.  Tôi mừng quá xá, cám ơn Thầy lia lịa, rồi chạy về nhà liền để báo cho Mẹ tôi hay.  Sau nầy tôi không có cơ hội nào được gặp lại Thầy Hùng nữa, nhưng được biết có một thời gian Thầy làm Trưởng Ty Y Tế tỉnh Vĩnh Bình (Trà Vinh), chi tiết nầy do một ngườI bạn thân của tôi là anh Nguyễn Bình Tưởng kể lại, lúc đó anh Tưởng là Hiệu Trưởng Trường Trung Học Vĩnh Bình.

 

Thầy Trần Văn Quế

 

 

Hình Thầy Trần Văn Quế một chức sác cao cấp của Đạo Cao Đài

 

           

Thầy Trần Văn quế dạy chúng tôi môn Sử.  Thầy người Nam, rất cao lớn, giọng nói trầm và ấm.  Cũng như Thầy Hai, năm đó Thầy đã lớn tuổi lắm rồi.  Ði dạy học, có khi Thầy mặc complet có khi mặc áo dài, nhưng luôn luôn là màu trắng.  Sau nầy tôi mới được biết Thầy là một chức sắc cao cấp của Ðạo Cao Ðài và đã từng làm Thứ Trưởng Nghiên Cùu và Cải Cách trong Chính Phủ Nguyễn Văn Tâm lần đầu (từ 25-6-1952 đến 8-1-1953).  Thầy Quế rất hiền lành, ngay cả cái cười của Thầy cũng rất hiền lành.  Chương trình Sử lớp Ðệ Nhứt là học về sử Việt Nam cận và hiện đại, Thầy lại là một chính khách đã từng hoạt động chống Pháp, bị tù Côn Ðảo, và lại từng tham gia Nội Các, nên khi Thầy giảng về các phong trào chống Pháp, Thầy giảng với tất cả tấm lòng nhiệt thành của Thầy, cộng thêm với những kinh nghiệm chính trị mà Thầy đã trãi qua, làm bọn tôi vô cùng say mê. 

 

Thầy Bùi Đình Tấn

 

            Thầy Bùi Ðình Tấn dạy chúng tôi môn Ðịa Lý.  Thầy người Bắc, cao lớn, trắng trẻo.  Thầy dạy học rất nghiêm.  Lúc đó sách Ðịa Lý Ðệ Nhứt của Thầy đã là sách giáo khoa tiêu chuẩn.  Bọn tôi đứa nào cũng có mua sách nầy của Thầy.  Vì thế vào lớp Thầy chỉ giảng thêm cho rộng ra mà thôi.  Một đặc điểm về Thầy Tấn mà tôi khó quên được là Thầy vẻ bản đồ rất hay, Thầy lại chỉ cho bọn tôi phương pháp để vẻ nên bọn tôi vô cùng thích thú.  Cuối năm đó, sau khi đậu xong Tú Tài 2, tôi tiếp tục học sách giáo khoa của Thầy và thi đậu luôn vào Ðại Học Sư Phạm Saigon, Ban Sử Ðịa.  

 

Các Bạn Thân Thời Học Đệ Nhị Cấp

 

            Sau khi đã học chung lớp với nhau suốt 4 năm (1953-1957) của bậc Đệ Nhứt Cấp, một nhóm 9 người bạn thân của tôi đã hình thành, lúc hoc cũng như lúc đi chơi đều cùng bên nhau rất thân thiết.  Nhóm gồm 9 người như sau:

 

·         Nguyễn Thanh Hải

·         Nguyễn Trung Hiếu

·         Đinh Xuân Lãm

·         Võ Văn Minh

·         Trần Phục

·         Phan Văn Quang

·         Dương Xã Tắt

·         Huỳnh Hữu Thế (Thế Huỳnh)

·         Lâm Vĩnh Thế (Thế Lâm)

 

Khi học lên bậc đệ nhị cấp nhóm 9 người này chỉ còn lại có 4 người vì 5 người đã rời trường vì các lý do khác nhau như sau:

 

·         Nguyễn Trung Hiếu đã rời Trường Petrus Ký, tình nguyện vào Trường Võ Bị Thủ Đức; sau khi ra trường, với cấp bậc Chuẩn Úy, Hiếu được bổ nhiệm về Sư Đoàn 9 Bộ Binh tai Miền Tây

·         Võ Văn Minh đã rời Trường Petrus Ký, ra học Lớp Đệ Tam C tại Trường Trung Học Tư Thục Cửu Long

·         Trần Phục đã thi đậu vào năm thứ nhứt của Trường Cán Sư Y Tê, Hệ 3 năm

·         Dương Xã Tắt đã thi đậu vào Trường Quốc Gia Sư Phạm, Hệ Cấp Tốc, chỉ học 1 năm

·         Huỳnh Hữu Thế, sau khi đã thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, đã tạo được một kỳ tích cho Trường Petrus Ký,là thi đậu luôn bằng Tú Tài 1 Ban B (Toán), và, vì vậy, không được Trường Petrus ký cho tiếp tục học nữa vì lúc đó Trường Petrus Ký vẫn còn cấm học nhảy lớp, nên Thế phải xin vào học lớp đệ nhứt tại Trường Trung Học Chu Văn An

 

Trong 4 người còn tiếp tục học Petrus Ký, Lãm và Quang học Đệ Tam B nhưng khác lớp, còn Hải và tôi thỉ vẫn tiếp tục học chung một lớp là Lớp Đệ Tam A (niên khóa 1957-1958)

 

Hiện nay, ỏ năm 2026 này, 6 bạn đã vĩnh viễn ra đi, chỉ còn lại có 3 ngươi: !) Nguyễn Trung Hiếu, đang sống tai thành phố San Diego, Nam California, Hoa Kỳ; 2) Phan Văn Quang, đang sống tai thành phố Seatle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, và 3) Lâm Vĩnh Thế, đang sống tại thành phố Hamillon, tỉnh bang Ontario, Canada

Xin thắp một nén hương để tưởng niệm đến 6 bạn đã mãn phần, liệt kê ra đây theo thư tự năm các bạn đã vĩnh viễn rời bỏ bạn bè, đi vể Cõi Vĩnh Hằng:

 

Ban Dương Xã Tắt (mất năm 1965)

 

 

Hình bạn Dương Xã Tắt chụp tại tiệc cưới của tôi – Đêm 6-10-1963

 

            Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Tắt lớn tuổi nhứt, mà cũng to con nhứt, và có tiền nhiều nhứt vì ba Tắt là một đại điền chủ giàu có lớn tại Bến Lức, thuộc tỉnh Tân An (về sau đổi tên thành Long An).  Tánh Tắt rất có lòng với bạn bè, và cũng rất rộng rãi nên mỗi lần đi chơi chung cả nhóm với nhau, khi góp tiền, ai không có đủ thì Tắt đều ứng ra cho, hoàn toàn không nề hà gì cả.

 

            Sau khi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt cấp, cuối niên khóa 1956-1957, Tắt thi và đậu vào Trường Quốc Gia Sư Phạm, Hệ CấpTốc, chỉ học một năm thôi.  Sau khi tốt nghiệp, Tắt được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Lức, thuộc tỉnh Long An.  Ngày 6-10-1963, tôi lập gia đình với Nhơn Nghĩa, và trở thành em rể của Võ Văn Minh.  Tắt đã từ Bến Lức lên Sài Gòn để dự tiệc cưới của vợ chồng tôi đêm hôm đó tại Nhà Hàng Đồng khánh trong Chợ Lớn:

 

 

Hình Tắt tại tiệc cưới của tôi: Tắt là người thứ ba từ trái qua (chỉ thấy profile)

 

 

            Mấy tháng sau, Tắt bị động viên vào Khóa 17, là Khóa Nguyễn Thái Học (từ 13/1/1964 đến 22/10/1964), khóa cuối cùng của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức (vào lúc giữa Khóa 17 này, ngày 1/7/1964, Trường được đổi tên thành Trường Bộ Binh Thủ Đức).

 

            Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy, nhờ sự vận động của gia đình, Tắt được bổ nhiệm về một đơn vị Địa Phương Quân ngay tại Bến Lức.  Bạn bè chúng tôi ai cũng mừng cho Tắt, coi như là Tắt đã được “mang chữ Thọ” rồi.   Thật không ngờ, trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Cộng, Tắt bị thương và tử trận vì không được tải thương kịp.  Lúc đó vợ Tắt đang mang thai được 6 tháng đứa con đầu lòng của vợ chồng Tắt.  Ngày đưa tang Tắt, tôi đã không đến tiễn bạn được vì đang bận coi thi Tú Tài I tại Cần Thơ.  Chỉ có Võ Văn Minh đại diện các bạn Lớp Đệ Tứ F đến tiễn đưa Tắt mà thôi. 

 

Bạn Huỳnh Hữu Thế (mất năm 2006)

 

 

 

Hình bạn Huỳnh Hữu Thế chụp Hè 1993

 

            Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Huỳnh Hữu Thế [1] là người giỏi môn Toán nhứt   Mỗi khi cần ôn bài để chuẩn bị thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là học kỳ) hay thi bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thì bọn tôi đều tụ tập tại nhà Võ Văn Minh và Thế đứng ra hướng dẫn anh em ôn tập Toán.

 

            Hè 1957, sau khi dậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp như cả nhóm, Thế đã tao ra một kỳ tích cho Trường Petrus Ký là Thế đã đi thi và đậu luôn cả bằng Tú Tài 1, Ban B (ban Toán),, tức là Thễ đã nhảy lớp, mà nhảy cả 2 lớp, từ Đệ Tứ lên thẳng Đệ Nhị.

 

            Vì vậy, khi tưu trường niên khóa 1957-1958, trong khi bọn tôi lên lớp đệ tam, thì Thế đã học lớp đệ nhứt rồi, nhưng Thế phải chuyển qua học Trường Chu Văn An vì Trường Petrus Ký lúc đó vẫn còn áp dụng chính sách cấm học sinh nhảy lớp.

 

            Hè 1959, Thế đậu bằng Tú Tài 2, cũng Ban Toán, và sau đó cũng đậu luôn vào năm thứ nhứt của Trường Đai Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Toán.  Vì vậy, đầu năm học 1959-1960, trong khi bọn tôi lên lớp đệ nhứt, chuẩn bị để đi thi bằng Tú Tài 2 vào cuối năm, thì Thế đã là một sinh viên của ĐHSPSG rồi.

 

            Nhưng cũng bắt đầu từ năm này, Thế đã phải dương đầu với rất nhiều khó khăn.  Thứ nhứt, Thế bị bệnh đau đầu rất nặng, hậu quả của việc dùng quá nhiều thuốc chống ngủ trong lúc hoc nhảy lớp đó. Thứ hai, vợ Thế dan díu với một nhân viên của Tòa Đai Sứ Thụy Sĩ, nơi vợ Thế làm thư ký, và đã bỏ Thế, và mang 2 đứa con gái nhỏ đi theo người nhân viên đó về Thụy Sĩ luôn.  Kết quả là Thế bị rơi vào một cuộc khủng hoảng tinh thần rất trầm trọng.  Chương trình học của ĐHPSG là 3 năm nhưng Thế phải học đến 6 năm vì năm nào cũng bị rớt và phải ở lại lớp.  Khi tốt nghiệp ĐHSPSG vào năm 1965, Thế đã đậu Thủ Khoa và được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).  Nhưng chỉ dạy được một niên khóa (1965-1966) thì Thế bỏ trường, tình nguyện vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức.  Nhưng nhờ vậy, qua 6 tuần lễ huấn nhục, ngày giờ đâu mà suy nghĩ về chuyện buồn của gia đình, Thế đã vượt qua được khủng hoảng tinh thần đó.

 

            Sau khi ra trường, Thế được bổ về Trường Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu.  Thế dạy học ở đó được 1 năm thì được Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt.  Tại đây Thế đã may mắn gặp được chị Bùi Thị Kim Hoàng, lúc đó đang là luật sư tập sự, hai người yêu nhau và đi đến hôn nhân, sinh được 1 đứa con trai đặt tên là Phong.  Phong giống cha nên cũng học rất giỏi, vế sau đậu PhD và đi sang Phi Châu giúp các nước nghèo.

 

            Sau ngày 30-4-1975, Thế phải đi cải tạo mấy năm.  Khi Thế được thả về, Chị Hoàng đã tổ chức cho hai cha con Thế đi vượt biên ngay, và, rất may mắn, ngay trong chuuyến đi đầu tiên, hai cha con Thế đã đi thoát, được Mỹ nhận cho vào định cư tại thành phố Newport, thuộc tiểu bang Connecticut.  Được tin vui này, tôi và bà xã cùng với đứa con trai nhỏ là Trung đã sang thăm hai cha con Thế ngay và chúng tôi đã có được tấm hình chụp chung sau đây tại khuôn viên của Trường Đai Học MIT (Massachusetts Institute of Technology) tại thành phố Boston:

 

Tử trái qua: một người bạn của Thế, Trung, con nhỏ của vợ chống tôi, bà xã tôi và tôi, Phong, con trai của Thế, và Thế.

            Sau đó, chính Chị Hoàng, không chờ Thế bảo lãnh, cũng đã đi vượt biên và, rất may mắn, Chị cũng đã thành công, được Mỹ nhận và đoàn tụ được với hai cha con Thế.

            Năm 1992, Trần Phục gởi thiệp mời dự đám cưới của đứa con gái lớn, tôi điện thoại cho Thế và được biết Thế cũng đã nhận được thiệp mời rồi.  Hai Thế chúng tôi cùng quyết định bay xuống Anaheim, Nam California, nơi vơ chồng Phục đang sống, để dự đám cưới.  Cùng lúc tôi cũng được tin Đinh Xuân Lãm đã qua đến Mỹ theo diện HO, và đã định cư tại San Jose, Bắc California.  HO là chữ viết tắt cho Humanitarian Operation, chương trình của Chính phủ Mỹ nhằm đưa người sang định cư tại Mỹ dành riêng cho các cưu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị cải tạo trên 3 năm. 

            Tôi mua vé máy bay và bay xuống San Jose.  Tại đây tôi mướn một chiếc xe hơi nhỏ, đến nhà Lãm, và chở vợ chồng Lãm với đứa con nhỏ là Tùng đi xuống Anaheim.  Chuyến đi mất gần 6 giờ, và suốt đoạn đường đi dài khoảng 600 km đó, tôi và Lãm nói chuyên liên tục vì có biết bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe sau khi bị chia cách nhau mười mấy năm trời.  Đến nhà Phục thì đã gần 2 giờ sáng, Thế đã có mặt tại đó rồi.  Bốn người bọn tôi, bên mâm trà do vợ Phục dọn ra, nói chuyện đến gần sáng, vợ Phục phải giục chúng tôi ngưng câu chuyện, đi ngủ vài giờ trước khi bên nhà trai đến rước dâu vào lúc 11 giờ. 

            Sau khi ăn sáng xong và trước khi bên nhà trai đến rước dâu, bọn tôi đã ra trước nhà Phục chụp một tấm ảnh kỷ niệm như sau:

 

Từ trái qua: Thế Lâm, Phục, Thế Huỳnh, và Lãm chụp trước nhà Phục – Hè 1992

            Hè năm sau, hai vợ chồng Thế với hai vợ chồng Phục cùng đi du lịch sang Canada, và đã đến thăm hai vợ chồng tôi và chúng tôi đã có được tấm ảnh chụp chung với nhau như sau:

Phục và vợ chồng Thế Huỳnh và vợ chồng tôi tại Mississauga – Hè 1993, hình do vợ Phục chụp

            Mấy năm sau đó, chúng tôi vẫn giữ liên lạc, khi thì điện thoại, khi thì điện thư.  Thế mất ngày 20-10-2006 vì bị đột quỵ khi chạy bộ buổi sáng trên bãi biển ở gần nhà.  Vợ Thế quá đau buồn nên không thông báo cho bạn bè ai cả.  Một hôm Phục gọi phone qua thăm mới biết Thế đã mất và báo cho tôi.

Bạn Đinh Xuân Lãm (mát năm 2011)

Hình bạn Đinh Xuân Lãm chụp khoảng năm 1990

            Tôi và Lãm [2] quen nhau từ năm 1953 khi thi đậu vào Trường Petrus Ký và cùng được xếp vào Lớp Đệ Thất B6 (niên khóa 1953-1954).  Được nửa năm, tên lớp được đổi thàng Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp này đã được giữ mãi cho hết đệ nhứt cấp: Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955), Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956), và Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957).  Hè 1957, Lãm và tôi đều đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp.  Tưu trường niên khóa 1957-1958, hai chúng tôi cùng lên lớp đệ tam, nhưng không còn học chung lớp nữa, Lãm học Ban B (Toán) còn tôi thì học Ban A (Khoa Học Thực Nghiệm). 

            Hè 1960 Lãm và tôi cùng đậu bằng Tú Tài 2.  Sau đó, tôi thi đậu vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa và Lãm thì tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 17, tức Khóa Lê Lai, khai giảng ngày 11-11-1960, và bế giảng ngày 30-3-1963.  Ra trường, với cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch, Lãm tình nguyện về phục vụ binh chủng Thủy Quân Lục Chiên (TQLC), và được điều về làm Đại Đội Phó (Đại Đội Trưởng lúc đó là Trung Úy Phạm Nhã), Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 2 (về sau nổi danh là Tiểu Đoàn Trâu Điên).

Trận đánh đầu tiên trong binh nghiệp của Lãm là Trận Đầm Dơi tại Cà Mau và đó là chiến thắng lớn nhứt trong năm 1963 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH).  Lãm được đi phép về Sài Gòn, và, nhờ vậy, Lãm đã làm rể phu cho tôi trong đám cưới của tôi với Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Võ Văn Minh.

Sau đó, Lãm đã tham dự rất nhiều trận đánh lớn của TQLC.  Câp bậc và chức vụ cuối cùng vào ngày 30-4-1975 của Lãm là Thiếu Tá, Ti\ểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Ngô Văn Định.

Sau ngày 30-4-1975, Lãm phải đi cải tạo tại Miền Bắc hơn 10 năm.  Năm 1990, Lãm được đi định cự tại San Jose, Nam California, Hoa Kỳ, theo diện HO (Humanitarian Operation = Chiến Dịch Nhân Đạo), dành cho các cựu sĩ quan của QLVNCH đã bị đi học tập hơn 3 năm.

Hè 1992, nhơn dịp đám cưới con gái của Trần Phục, Lãm đã cùng với Phục và hai Thế chúng tôi có được tấm ảnh quý hiếm chụp trước nhà Phục như đã  trình bày bên trên

:           Sau đám cưới con gái của Phục, tôi đưa vợ chồng Lãm – Lệ và đứa con trai trở về San Jose, và hôm sau thì tôi bay về Toronto.  Lãm và tôi tiếp tục giữ liên lạc qua thư từ và điện thoại, và tôi vui mừng được biết gia đình Lãm đã từng bước ổn định cuộc sống tại Hoa Kỳ, và hai đứa con trai đều học hành có kết quả rất tốt, tốt nghiệp ra trường và đều có công ăn việc làm vững vàng.

            Mùa Thu năm 2007, sau khi tôi đã nghỉ hưu, vợ chồng tôi bay sang California để thăm bà con và bạn bè.  Trong dịp này, vợ chồng tôi đã dành thì giờ đi San Jose thăm hai vợ chồng Lãm – Lệ.  (chính trong đám cưới của vợ chồng tôi năm 1963, Lãm là rể phụ cho tôi và Lệ là dâu phụ cho vợ tôi; hai ngườ đã quen nhau từ đó, yêu nhau, và sau cùng đi đến hôn nhân và sinh được 2 đứa con trai), Chúng tôi đã có được tấm ảnh kỷ niệm hiếm quý cho cuộc gặp gỡ này:

Hình vợ chồng Lãm – Lệ và vợ chông tôi trước nhà Lãm, San Jose, Califotrnia, Hoa Kỳ    Hè 2007

            Thật không ngờ đó là lần cuối cùng tôi được gặp lại Lãm.  Ngày 21-6-2011, Lãm mất đột ngột ở tuổi 71.  Đám tang Lãm đã được Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam tai Hoa Kỳ tổ chức rất trọng thể, có cả Lễ Phủ Quốc Kỳ:

Lý do rất là chính đáng: Thiếu Tá Đinh Xuân Lãm, Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, chức vụ cuối cùng là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 TQLC, đã trọn đời chinh chiến, luôn sát cánh với đồng đội, và được sự thương yêu của cấp dưới cũng như được cấp trên đánh giá cao.  Trước khi đột ngột qua đời, trong một lần lâm bệnh, Thiếu Tá Lãm đã được chính các cấp chỉ huy đến tận nhà thăm viếng như trong tấm ảnh bên dưới đây:

Hình chụp tại nhà Lãm: người đứng bên trái là Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, cựu Tư Lệnh TQLC; người bắt tay Lãm là Đại Tá Ngô Văn Định, cựu Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 468 TQLC

 

Các quân nhân TQLC VNCH chào kính trước khi làm lễ di quan tại đám tang của Lãm

Bạn Võ Văn Minh (mát năm 2018)

Hình bạn Võ Văn Minh chụp khoảng thập niên 1960

            Võ Văn Minh, sinh năm 1940, là một người trong nhóm 9 người bạn thân của tôi hồi học bậc đệ nhứt cấp tại Trường Petrus Ký.  Về sau, Minh còn thân tình với tôi nhiều hơn nữa vì tôi đã cưới Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Minh.

            Minh là một người tính tình hiền lành, vui vẻ, và có lòng với bạn bè.  Nhà Minh bao giờ cũng là nơi bọn tôi tụ họp lại để ôn bài thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là thi bán niên), dưới sự hướng dẫn làm các bài Toán của Thế vì Thế là một “câyToán” của lớp. 

            Sau khi thi rớt bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 195, thay vì ở lại học thêm một năm để năm sau thi lại, có lẽ vì tự ái, Minh đã bỏ trường, ra học Lớp Đệ Tam C tại Trường Trung Học Tư Thục Cửu Long.  Hè năm sau, Minh thi rớt Tú Tái Ban C, và bỏ học luôn, ra đi làm.  Nhờ một ngươi anh chú bác ruột, anh Võ Thành Đức, lúc đó là Thiếu Tá, Trưởng Ban F22, Cảnh Sát Đặc Biệt, thuộcTổng Nha Cảnh Sát Quốc Gai, Minh được nhận vào làm thư ký đánh máy lương bổng cho Ty Cảnh Sát Gia Định.

            Minh lập gia đinh với Chị Bùi Thị Kim Hoàng (trùng tên họ với vợ Thế) và sinh được 3 đứa con, 1 trai và 2 gài, đặt tên là Võ Hoàng Hải, Võ Thị Ngọc Hà, và Võ Thị Ngọc Hạnh.

            Cuối tháng 1-2018, nghe tin Minh đau nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để bay về Việt Nam ngay, nhưng vẫn không kịp.  Minh đã mất vào buỏi tối ngày 3-2-2018, thọ 78 tuổi

Bạn Trần Phục (mất năm 2018))

Hình bạn Trần Phục chụp năm 1993

            Trần Phục, không rõ sinh năm nào, nhưng tôi nghĩ là có thể lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi  Gia đình Phục tương đối khá giả, có một cơ sở khá lớn, buôn sỉ chén bát trong Quận 5, Chợ Lớn.  Phục tính tình hiền lành và rất tốt với bạn bè.

            Sau khi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 1957, Phục thi vào Trường Cán Sự Y Tế, hệ 3 năm.  Ra trường, Phục được bổ nhiệm làm Y Tá tại Tổng Y Viện Cộng Hòa và Phục đã làm việc tại đây cho đến ngày 30-4-1975.  Cũng chính tại đây, Phục đã gặp được người vợ tương lai của mình.

            Sau khi vượt biên thành công và được Mỹ nhận, gia đình Phục đã định cư tại Anaheim, Bắc California, và Phục đã sống tại thành phố này cho đến khi mãn phần vào ngày 21-12-2018.

Bạn Nguyễn Thanh Hải (mất năm 2023)

Hình bạn Nguyễn Thnh Hai chụp năm 1960

            Nguyễn Thanh Hải,[3] sinh năm1939, là người bạn thân nhứt của tôi trong suốt 7 năm (1953-1960) theo học tại Trường Petrus Ký   Mỗi ngày, Hải đạp xe đạp từ Thị Nghè qua Đakao để cùng tôi đi học, và trong lớp thì Hải và tôi cũng ngồi chung bàn suốt 7 năm đó.

            Hè 1960, tôi thi đậu bằng Tú Tài 2 và đậu luôn vào ĐHSPSG, Hải thi rớt tất cả 2 kỳ thi của năm đó.  Năm sau, Hải ghi danh vào học lớp đêm dành cho tráng niên tai Trường Nữ Tiểu Học Đakao trên đường Phan Đình Phùng để chuẩn bị thi lại vào cuối năm.  Thỉnh thoảng, khoảng 8 giờ tối, Minh và tôi đạp xe đến trường để rủ Hải bỏ học đi uống cà phê với tụi tôi tại tiệm Hà Nội trên đường Bonard ở Sài Gòn.  Cuối năm học đó, Hải thi đậu bằng Tú Tài 2, và qua Hè 1962, Hải cùng với tôi làm đơn tình nguyện vào Không Quân.  Không biết ai báo tin, Mẹ tôi hay được, kêu tôi về, la rầy tôi, và khóc quá chừng.  Mẹ tôi vừa khóc vừa nói như sau: “Bao nhiêu người muốn được vào học ở đó, con đã đậu rôi, lại bỏ đi.  Ăn cơm dưới đất mà làm việc trên Trới!  Bộ con muốn Má lo cho tới chết hay sao?”  Nghe Mẹ nói những lời thống thiết như vậy, tôi đành phải bỏ cuộc, trở về trường học tiếp và tốt nghiêp ĐHSPSG vào tháng 4-1963.

            Khi tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa vào ngày 6-10-1963, Hải là ngưới bạn thân nhứt của tôi lại không có mặt tại đám cưới vì lúc đó Hải đang học lái máy bay trực thăng tại Hoa Kỳ.

            Hè năm 1964, Hải, với cấp bậc Chuẩn Úy hiện dịch, mang đôi cánh bạc về nước và được điều về phục vụ tại Phi Đoàn 217 Trực Thăng, thuộc Không Đoàn 64 Chiến Thuật tại Cần Thơ.  Năm 1970, với cấp bậc Đại Úy, Hải đã chi huy các phi tuần trực thăng vũ trang tấn công sang Kampuchia. 

            Câp bậc và chức vụ sau cùng của Hải vào ngày 30-4-1975 là Trung Tá, Phụ Tá Tư Lệnh Không Quân Đặc Trách Về An Phi tại căn cứ Tân Sơn Nhứt. 

            Sau ngày 30-4-1975, Hải bị đi tù cải tạo ở Miền Bác khoảng 14 năm.  Mấy năm sau, Hải đưa được gia đình đi định cư tại Mỹ, thành phố Lansing, tiểu bang Michigan, theo chương trình HO.  Vợ chồng tôi đã mấy lần sang Lansing thăm vợ chồng Hải và chúng tôi đã có được tấm ảnh ăn cơm chung với nhau tại nhà Hải như sau:

Ăn cơm tại nhà Hải ở Lansing năm 2012

            Thật không ngờ đó lại là tấm ảnh cuối cùng Hải và tôi chụp chung với nhau.  Sau khi vợ chồng Hải dọn về Modesto, California để được gần con gái và các cháu ngoại, Hải và tôi không còn có dịp gặp nhau nữa cho đến khi Hải mãn phần vào ngày 22-9-2023.

Thay Lời Kết:

            Sáu mươi sáu (66) năm đã trôi qua kể từ khi Lớp Đệ Nhứt A1 (niên khóa 1959-1960) được hoàn tất tai Trường Petrus Ký.  Những thiếu niên vừa chớm tuổi đôi mươi ngày nào nay đều đã trở thành những lão niên ở tuổi “Bát Tuần” hết cả rồi.  Thời gian qua nhanh thật, Và, thời gian cũng thật vô tình, phủ phàng mang theo nó hơn phân nửa những người bạn thân thương của tôi.  Ba người bạn còn tại thế thì lại sống xa cách nhau hàng ngàn dặm, với tuổi đời chồng chất như vậy và sức khỏe ngày một kém, việc tương phùng với nhau đã thật sự trở thành một thứ “Mission Impossible” không tránh được nữa rồi.